Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 10 - 2024

V/v tranh chấp: ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Phạm Thị Hiền;
  • 2. Bà Trần Thị Kim Nhung.

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Vân Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 146/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 209A/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Phạm Thị T, sinh năm 1987; nơi thường trú: thôn D, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
  2. Bị đơn: anh Ôn Văn V, sinh năm 1984; nơi thường trú: thôn Đ, xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Phạm Thị T và anh Ôn Văn V có đăng ký kết hôn ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trước khi kết hôn, cả hai có thời gian tìm hiểu nhau, chị T đã có chồng và đã ly hôn, còn anh V chưa có vợ. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau một thời gian, đến đầu năm 2021 phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay. Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là Ôn Văn T1, sinh ngày 15/9/2019.

Quan điểm và yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T: cho rằng do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày, không có sự chia sẻ. Anh V không tu chí làm ăn, thường xuyên mải chơi cờ bạc không quan tâm đến gia đình, vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích, xô xát. Mặc dù chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh V không thay đổi. Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V. Về con chung: chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi); chị không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con. Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ giấy triệu tập lấy lời khai, Thông báo về phiên họp kiểm ra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý do, nên không thể tiến hành được.

Tại Biên bản xác minh ngày 16 tháng 8 năm 2024, ông Hoàng Văn L, Trưởng thôn Đ, xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh cung cấp: chị T và anh V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn và thường trú tại: thôn Đ, xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống ở địa phương, vợ chồng có mâu thuẫn lời qua tiếng lại, ông không biết cụ thể nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là gì. Sau đó, chị T và con đã chuyển đi nơi khác sinh sống, còn anh V vẫn ở địa chỉ này. Anh V đi làm ăn xa, nhưng thỉnh thoảng vẫn về thăm gia đình. Gia đình vẫn liên lạc được với anh V.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long có quan điểm:

  1. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: việc thụ lý và giải quyết vụ án dân sự về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự được đảm bảo thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản triệu tập của Tòa án, nguyên đơn có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là vẫn đảm bảo thực hiện đúng quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 227, các khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị T và anh Ôn Văn V có đủ điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh V để lấy lời khai và hòa giải nhưng anh V biết mà không đến trụ sở Tòa án để làm việc, điều đó thể hiện thái độ không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của mình, không tìm cách khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tình cảm vợ chồng và quan hệ hôn nhân có đạt được hay không phải xuất phát từ ý chí và nguyện vọng của cả hai bên, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng vợ chồng sống ly thân đã lâu, tình cảm không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị T.

[2.2] Về việc nuôi dưỡng con chung: chị Phạm Thị T và anh Ôn Văn V có một con chung tuổi còn nhỏ, đang sinh sống ổn định cùng với mẹ. Hội đồng xét xử thấy cần thiết giao con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển bình thường, ổn định về tâm lý, thể chất và tương lai phát triển của con, phù hợp với quy định của pháp luật. Việc chị T không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[3] Về án phí: chị Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các điểm a và b khoản 2 Điều 227, các khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 58, các khoản 1 và 2 Điều 81, các điều 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và việc nuôi dưỡng con chung của nguyên đơn - chị Phạm Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Ôn Văn V.
  2. Về việc nuôi dưỡng con chung: giao con chung Ôn Văn T1, sinh ngày 15 tháng 9 năm 2019 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi).

Anh Ôn Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí: chị Phạm Thị T tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000915 ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; chị Phạm Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Hạ Long, T. Quảng Ninh;
  • - UBND xã Sơn Dương,
  • TP. Hạ Long, T. Quảng Ninh;
  • - THADS TP. Hạ Long, T. Quảng Ninh;
  • - VKSND T. Quảng Ninh;
  • - TAND T. Quảng Ninh;
  • - Lưu HS; TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HNGĐ-ST ngày 14/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 119/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger