TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 119/2024/DS-ST Ngày: 30 - 9 - 2024 V/v Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Bình
Ông Lưu Trọng Kim
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thuỷ- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 và 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024, về “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 213/2024/QÐST-DS, ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc A, sinh năm 1979; nơi cư trú: 2, P, phường B, quận P, Thành Phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Dương Văn L, sinh năm 1956; nơi cư trú: Tổ H, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng C1; địa chỉ: Số F, L, phường H, Thành Phố T, Thành Phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Đ, sinh năm 1965; chức danh: Trưởng Văn phòng; Nơi thường trú: Số F, Q, tổ D, khu phố E, phường T, Thành phố T, Thành Phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1982; nơi thường trú: 146/59/20, V, phường B, quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1984; nơi cư trú: 2 đường A, khu phố B, phường L, Thành phố T, Thành Phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: 93/14, Q, phường H, thành phố T, Thành Phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Bà Dương Thị Trà M, sinh năm 1988; cư trú tại: Tổ H, ấp H, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.
- Bà Dương Thị Mỹ L1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
- Bà Dương Thị Thùy L2, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đăk Lắk. Vắng mặt.
- Bà Dương Thị Tường V, sinh năm 1996; nơi cư trú: Khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc A: Ông Vũ Ngọc C, sinh năm 1962; nơi thường trú: Ấp A, T, C, Thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: Văn phòng Luật sư Vũ N, luật sư Vũ Ngọc C: Số A, đường B, KDC I, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc T3, sinh năm 1966-Luật sư cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn T2, bà Dương Thị Tường V, bà Dương Thị Mỹ L1: Ông Dương Văn L, sinh năm 1956; nơi cư trú: Tổ H, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án nguyên đơn, người đại diện trình bày:
Vào ngày 17/01/2022, tại Văn phòng C1; địa chỉ số F, L, phường H, Thành Phố T, Thành Phố Hồ Chí Minh ông Dương Văn L và bà Phạm Thị Ngọc A ký kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 102 tờ bản đồ số 91 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 188891 do UBND huyện Đ cấp ngày 02/4/2014, đứng tên hộ bà Lê Thị Lệ H, ông Dương Văn L số công chứng 000977 quyển 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD với số tiền đặt cọc là 750.000.000 đồng, mục đích bảo đảm cho việc chuyển nhượng, thời hạn đặt cọc từ ngày 17/01/2022 cho đến hết ngày 23/12/2022. Ông L đã nhận tiền cọc và viết biên nhận đã nhận đủ số tiền 750.000.000 đồng vào ngày 17/01/2022. Tuy nhiên hết thời hạn đặt cọc, mặc dù bà A đã nhiều lần yêu cầu ông L tiến hành thủ tục chuyển nhượng thửa đất nhưng ông L không thực hiện.
Bà A khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông Dương Văn L tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 102, tờ bản đồ số 91 (236389-9-(13), diện tích 90,5m², tọa lạc tại khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 188891, vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 14320, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho hộ bà Lê Thị Lệ H và ông Dương Văn L ngày 02/4/2014 theo hợp đồng đặt cọc số công chứng 000977 quyển số 01/2022TP-SCC/HĐGD ngày 17/01/2022, tại Văn phòng C1; địa chỉ: số F, L, phường H, Thành Phố T, Thành Phố Hồ Chí Minh; Trường hợp ông Dương Văn L không muốn tiếp tục và từ chối chuyển nhượng thửa đất số 102 cho bà A theo Hợp đồng đặt cọc nêu trên thì phải bồi thường cho bà A gấp đôi số tiền đã nhận cọc theo điểm b, khoản 1 Điều 5 của Hợp đồng đặt cọc đã ký số công chứng 000977 quyển số 01/2022TP-SCC/HĐGD ngày 17/01/2022, tại Văn phòng C2 Số tiền yêu cầu bồi thường là 750.000.000 đồng x 2 = 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng).
Tại đơn đề nghị vắng mặt tại phiên toà ghi ngày 24/9/2024, đại diện nguyên đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện thống nhất đề nghị Toà án tuyên Hợp đồng đặt cọc số công chứng 000977 quyển số 01/2022 TP-SCC/HĐGD ngày 17/01/2022, tại Văn phòng C1 vô hiệu và buộc ông L phải trả lại cho bà A số tiền cọc đã nhận 750.000.000 đồng. Hậu quả của hợp đồng vô hiệu do các yếu tố làm hợp đồng vô hiệu là của bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.
Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên toà bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Thửa đất số 102 tờ bản đồ số 91 toạ lạc tại khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ có nguồn gốc do vợ chồng ông L, bà H nhận sang nhượng năm 1980, sau đó bà H, ông L xây nhà cấp bốn trên đất, đến ngày 02/4/2014 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận là thửa đất số 102, tờ bản đồ số 91 (236389-9-(13), diện tích 90,5m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 188891, vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 14320, đứng tên hộ bà Lê Thị Lệ H và ông Dương Văn L.
Bà Lê Thị Lệ H chết năm 2012, mặc dù thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là năm 2014, nhưng hồ sơ kê khai được thực hiện trước đó. Ông L, bà H có 05 người con chung là Dương Thị Trà M, sinh năm 1988; Dương Thị Mỹ L1, sinh năm 1990; Dương Thị Thùy L2, sinh năm 1992; Dương Thị Tường V, sinh năm 1996; Dương Quốc D, sinh năm 1996, (chết năm 2019); bà H có 01 người con riêng là Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1983; cha mẹ bà H đã chết trước năm 1975.
Giữa ông L và bà Phạm Thị Ngọc A chưa từng gặp nhau, cũng không hề có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thỏa thuận giá cả, hay bất kì nội dung gì. Vào ngày 17/01/2022, tại Văn phòng C1; địa chỉ số F, L, phường H, Thành Phố T, Thành Phố Hồ Chí Minh ông Dương Văn L có ký kết hợp đồng đặt cọc với bà A là do trước đó ông Lê Đức Q, em ruột của bà H có mượn giấy chứng nhận số BP 188891 để thế chấp làm ăn. Ông Q có liên hệ ông L vào Thành Phố Hồ Chí Minh để ký giấy tờ, vì tin tưởng nên ông L đã không đọc lại nội dung của hợp đồng đặt cọc mà chỉ nghĩ ký để thế chấp vay tiền. Ông L không nhận bất cứ số tiền nào từ bà A, bà A đã đưa số tiền đặt cọc 750.000.000 đồng cho ông Q. Sau này, khi biết được hợp đồng mình đã ký là hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất chứ không phải để cầm cố hay thế chấp vay tiền, ông L đã liên hệ ông Q nhưng không được.
Tuy nhiên, ông L không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ chứng minh ngày 17/01/2022 ông L ký hợp đồng đặt cọc nhằm thế chấp quyền sử dụng đất cho ông Q vay tiền làm ăn, cũng như số tiền đặt cọc 750.000.000 đồng do ông Q nhận từ bà A, chứ không phải ông L nhận.
Tại phiên toà ông L, người bảo vệ quyền và lợi ích ích hợp pháp của ông L đồng ý tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 17/01/2022, số công chứng 000977 quyển 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu, đồng ý hoàn trả lại cho bà A số tiền 750.000.000 đồng, đồng thời yêu cầu bà A trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng số BP 188891.
Theo hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1, người đại diện trình bày:
Ngày 17/01/2022, Văn phòng C1 nhận được yêu cầu của ông Dương Văn L và bà Phạm Thị Ngọc A về việc lập hợp đồng đặt cọc đối với thửa đất số 102 tờ bản đồ số số 91 (236389-9-(13), diện tích 90,5m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 188891, vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 14320, đứng tên hộ bà Lê Thị Lệ H và ông Dương Văn L. Sau khi kiểm tra thông tin đối với thửa đất trên và không phát hiện ngăn chặn. Công chứng viên Văn phòng C1 ký chứng nhận hợp đồng đặt cọc số công chứng 000977 quyển 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Tại thời điểm ký kết, ông L và bà A có đủ năng lực hành vi dân sự. Đối với yêu cầu của nguyên đơn, Văn phòng C1 đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn T1 trình bày:
Thống nhất như yêu cầu của nguyên đơn.
Theo hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Mỹ L1, bà Dương Thị Tường V, ông Nguyễn Tấn T2, người đại diện trình bày:
Thống nhất như ý kiến của bị đơn.
Theo hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Thùy L2 trình bày:
Thống nhất như ý kiến của bị đơn.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Trà M:
Mặc dù đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có đơn khởi kiện độc lập, cũng không có ý kiến, tài liệu chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án, cũng không tham gia làm việc và tham gia phiên tòa.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến nay: Trong quá trình tiến hành thụ lý giải quyết vụ án, thẩm phán đã tuân theo đúng trình tự thủ tục tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự như xác định đúng mối quan hệ tranh chấp; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; tiến hành các thủ tục nhận đơn, thụ lý, thông báo thụ lý đúng quy định; thực hiện hòa giải, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã thực hiện việc điều hành phiên tòa theo đúng quy định. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, của bị đơn từ khi thụ lý vụ án cũng như việc chấp hành nội quy tại phiên tòa đương sự đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 101, khoản 1 Điều 117, Điều 122, Điều 123, khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự 2015; Các Điều 166, 170, 179 Luật đất đai 2013 tuyên bố Hợp đồng đặt cọc giữa bà Phạm Thị Ngọc A và ông Dương Văn L xác lập ngày 17/01/2022 được công chứng số 000977 quyển 01/2022 tại văn phòng C1 là vô hiệu; Buộc ông Dương Văn L phải hoàn trả số tiền nhận cọc 750.000.000đ cho bà Phạm Thị Ngọc A. Về yêu cầu trả lại giấy chứng nhận số BP 188891 không có cơ sở để chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên Toà, trên cơ sở ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị đơn ông Dương Văn L hiện thường trú tại huyện Đ nên khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Theo đơn khởi kiện, chứng cứ do các đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự giao nộp, quá trình làm việc tại Tòa án cũng như tại phiên tòa xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết là “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc” là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 328 Bộ luật dân sự.
[3] Trong giai đọan chuẩn bị xét xử mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1, ông Nguyễn Tấn T1, bà Dương Thị Thùy L2 nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn T2, bà Dương Thị Tường V, bà Dương Thị Mỹ L1 nhưng có mặt người đại diện tham gia phiên toà; vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Trà M không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự, người đại diện trên là phù hợp.
[4] Tại đơn đề nghị vắng mặt tại phiên toà ghi ngày 24/9/2024 đại diện nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện, đề nghị Toà án tuyên Hợp đồng đặt cọc số công chứng 000977 quyển số 01/2022TP-SCC/HĐGD, ngày 17/01/2022 tại Văn phòng C1 vô hiệu và buộc ông L phải trả lại cho bà A số tiền 750.000.000 đồng. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của đại diện nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, bị đơn cũng chấp nhận nên được chấp nhận xem xét, giải quyết.
[5] Thửa đất số 102 tờ bản đồ số 91, diện tích 90,5m² toạ tại khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận có nguồn gốc do ông L, bà H nhận chuyển nhượng từ năm 1980. Năm 2012 bà H chết không để lại di chúc, thửa đất 102 cũng chưa được các đồng thừa kế thoả thuận phân chia, hay yêu cầu Toà án giải quyết. Năm 2013 ông L làm thủ tục kê khai, đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 02/4/2014 Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 188891 cho hộ bà Lê Thị Lệ H, ông Dương Văn L. Sau khi được cấp giấy chứng nhận các đồng thừa kế của bà H cũng chưa có thoả thuận phân chia di sản do bà H chết để lại, chưa yêu cầu Toà án giải quyết, cũng không uỷ quyền định đoạt cho ông L. Tuy nhiên, ngày 17/01/2022 ông L ký hợp đồng đặt cọc với bà Phạm Thị Ngọc A được Văn phòng C1 chứng nhận số công chứng 000977 quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD là vi phạm Điều 101, các Điều 212, 218 Bộ luật dân sự năm 2015.
Đồng thời tọa lạc trên thửa đất có một căn nhà trệt cấp 4C, diện tích 51,4 m² do gia đình ông Dương Văn L đang quản lý, sử dụng. Đây là tài sản có giá trị trên đất, tuy nhiên trong quá trình giao dịch, lập hợp đồng đặt cọc các bên không có thỏa thuận xử lý tài sản này.
Vì vậy Hợp đồng đặt cọc ngày 17/01/2022 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015.
[6] Hợp đồng đặt cọc được Văn phòng C1 công chứng ngày 17/01/2022, số công chứng 000977 quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu nên không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập, nên các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Tại hợp đồng đặt cọc thể hiện số tiền đặt cọc là 750.000.000 đồng, ông L đã ký nhận đủ, tại phiên toà ông L cũng đồng ý hoàn trả lại cho bà A số tiền này. Nên cần buộc ông L hoàn trả cho bà A số tiền 750.000.000 đồng.
Theo hồ sơ khởi kiện, kèm theo tài liệu (bút lục 08, 09) nguyên đơn cung cấp một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 188891 bản sao do Văn phòng C3 chứng nhận ngày 05/9/2023, số công chứng thực 006607, nên có cơ sở xác định hiện bà A đang giữ giấy chứng nhận số BP 188891 của ông L, nên cần buộc bà A phải trả lại giấy chứng nhận số BP 188891 cho ông L.
Tại thời điểm công chứng Hợp đồng đặt cọc ngày 17/01/2022, ông L không được các thừa kế của bà H uỷ quyền, thửa đất chưa được phân chia thừa kế, cũng không phải là tài sản của cá nhân nhưng ông L vẫn ký hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng thửa đất, nên ông L có lỗi dẫn đến hợp đồng đặt cọc bị vô hiệu. Tại giấy chứng nhận số BP 188891 thể hiện người sử dụng đất là hộ bà Lê Thị Lệ H, ông Dương Văn L nhưng bà A đã không tìm hiểu các quy định của pháp luật đất đai về điều kiện, chủ thể, đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà vẫn đồng ý nhận chuyển nhượng và đặt cọc, nên bà A cũng có lỗi, do các bên đều có lỗi nên không bên nào phải bồi thường cho bên nào.
[7] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Nguyên đơn đã tạm chi, nên cần buộc bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn.
[8] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên vô hiệu hợp đồng đặt cọc được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và phải chịu án phí có giá nghạch về việc trả lại tiền cọc. Tuy nhiên, bị đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn phải chịu án phí về việc trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn.
[9] Các đương sự, người đại diện đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 158, 165, 166, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 101, 122, 123, 131, 212, 218, 328, 351, 357, 385, 407, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 166, 170 và 179 Luật đất đai năm 2013; Khoản 47 Điều 3 Luật đất đai năm 2024; Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung; Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc A.
Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc giữa bên đặt cọc bà Phạm Thị Ngọc A, bên nhận cọc ông Dương Văn L được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 17 tháng 01 năm 2022, số công công chứng 000977 quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu.
Buộc ông Dương Văn L phải hoàn trả cho bà Phạm Thị Ngọc A số tiền 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng).
Buộc bà Phạm Thị Ngọc A phải hoàn trả cho ông Dương Văn L bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 188891, đứng tên hộ bà Lê Thị Lệ H, ông Dương Văn L, số vào sổ cấp GCN: CH 14320, do UBND huyện Đ cấp ngày 02/4/2014.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Dương Văn L phải hoàn trả lại cho bà Phạm Thị Ngọc A số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đã chi.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí:
Bà Phạm Thị Ngọc A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 28.500.000 đồng (Hai mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004130, ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Hoàn trả lại cho bà A số tiền 28.200.000 đồng (Hai mươi tám triệu hai trăm ngàn đồng) còn lại.
Ông Phạm Văn L3 được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự, người đại diện của đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Các đương sự, người đại diện của đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Trường |
Bản án số 119/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 119/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Ngọc Anh- Dương Văn Luông "Tranh chấp hợp đồng đặt cọc"
