TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 119/2024/DS-ST Ngày 27 tháng 9 năm 2024 (V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng) | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Ngọc Lâm và bà Đỗ Thị Thái
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Long - Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 61/2024/TLST- DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 về Tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 66/2024/QĐHPT-DS ngày 10/9/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B
Địa chỉ: số A, P, quận H, TP .
Đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Quyết T - Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Ngô Tiến T1 – Chuyên viên (Có mặt)
*Bị đơn: Chị Đoàn Ngọc M – sinh năm: 1994 (Vắng mặt)
Anh Đỗ Viết T2 – sinh năm: 1990 (Vắng mặt)
Đều HKTT: thôn Đ, xã T, huyện Ứ, Tp .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 02/2/2018, anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M có vay của Ngân hàng TMCP B số tiền là 1.000.000.000 đồng( Một tỷ đồng), mục đích vay: bù đắp vốn sửa chữa nhà, thời hạn vay từ 02/2/2018 đến 02/2/2033; lãi suất vay 7.77%/năm trong 12 tháng đầu; Điều chỉnh 06 tháng/ 1 lần bằng lãi suất huy động 13 tháng trả lãi sau do Ngân hàng B công bố biên độ 3.55%/năm; nội dung trên theo Hợp đồng tín dụng số 0099/2018/HDDTF2/BVB005 ngày 02/2/2018 được ký kết giữa ngân hàng và anh T2, chị M.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, anh T2 và chị M đã thế chấp cho Ngân hàng: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 195, tờ bản đồ số 51, diện tích: 90.6m2; có địa chỉ tại phố N, TT. V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV537145; số vào sổ cấp GCN: CS-UH 00149 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 11/11/2015cho hộ ông Nguyễn Bá V; Chuyển nhượng cho ông Đỗ Viết T2 và vợ là bà Đoàn Ngọc M ngày 30/01/2018. Hợp đồng thế chấp công chứng số 0289.2018/HĐTC; quyển 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/01/2018 Tại văn phòng C.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T2, chị M đã vi phạm nghĩa vụ, không thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP B. Ngân hàng đã xuống gặp vợ chồng anh T2, chị M nhiều lần nhưng anh chị không thiện chí trả nợ.
- Tạm tính đến ngày 07/8/2024, anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M đã trả cho ngân hàng TMCP B số tiền tổng cộng là: 23.874.797 đồng (trong đó: Nợ gốc: 11.120.000 đồng, N lãi trong hạn: 12.717.262 đồng, nợ lãi quá hạn 19.529 đồng; lãi chậm trả lãi là: 18.006 đồng) và còn nợ Ngân hàng TMCP B số tiền là: 1.944.863.269 đồng (một tỷ, chín trăm bốn mươi bốn triệu, tám trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm sáu mươi chín đồng). Trong đó: nợ gốc là: 988.880.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 417.125.092 đồng; nợ lãi quá hạn: 374.670.131 đồng; lãi chậm trả lãi + Phí là: 164.188.045 đồng.
Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP B, Ngân hàng khởi kiện anh chị ra Toà án, đề nghị Toà án:
- Buộc anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP B ngay sau khi Bản án/Quyết định có hiệu lực thi hành, số tiền tạm tính đến ngày 07/8/2024 là 1.944.863.269 đồng (một tỷ, chín trăm bốn mươi bốn triệu, tám trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm sáu mươi chín đồng). Trong đó: nợ gốc là: 988.880.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 417.125.092 đồng; nợ lãi quá hạn: 374.670.131 đồng; lãi chậm trả lãi + Phí là: 164.188.045 đồng.
- Đề nghị Q tòa tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 08/8/2024 cho đến khi anh T2 và chị M thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng (HĐTD) đã ký.
Trong trường hợp anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP B, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP B có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M đối với Ngân hàng TMCP B. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP B
Án phí: bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định.
Bị đơn anh Đỗ Viết T2 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa làm việc. Đối với chị Đoàn Ngọc M, có thông tin xuất cảnh nhưng không xác định được địa chỉ cụ thể của chị M. Do đó, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh, chị. Tuy nhiên, anh chị vẫn không đến Tòa án làm việc do đó không có quan điểm trình bày.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp ngày 23/8/2023 và biên bản xác minh ngày 02/8/2024 thể hiện: tài sản thế chấp vẫn giữ nguyên hiện trạng, không có thay đổi gì so với thời điểm thế chấp; hiện tại không có tranh chấp với ai; không có ai sinh sống trên đất.
Tại phiên tòa: nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Toà án buộc vợ chồng anh T2, chị M phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP B tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 27/9/2024 là:
Nợ gốc: 988.880.000 đồng;
Nợ lãi trong hạn: 417.125.092 đồng;
Nợ lãi quá hạn: 399.675.190 đồng
Lãi chậm trả lãi, phí: 170.016.368 đồng.
Tổng số tiền là: 1.975.696.651 đồng.
Bị đơn tiếp tục phải chịu lãi kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký.
Bị đơn vắng mặt, không có quan điểm trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B, buộc anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP B số tiền nợ gốc, nợ lãi, phạt theo các hợp đồng đã ký với ngân hàng. Trường hợp anh T2, chị M không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Ngân hàng TMCP B đã khởi kiện đã làm đơn theo đúng mẫu, nộp tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật, bị đơn có Hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã T, huyện Ứ, Tp . nên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Quá trình làm việc, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xác định chị Đoàn Ngọc M xuất cảnh ngày 06/6/2023 chưa có thông tin nhập cảnh. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 41 Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa chuyển thẩm quyền vụ án lên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình làm việc, Tòa án không xác định được địa chỉ cụ thể của chị Đoàn Ngọc M. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Bị đơn anh Đỗ Viết vắng M2 không có lý do. Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai những họ vẫn vắng mặt tại phiên toà xét xử vụ án không có lý do chính đáng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Về việc vay nợ giữa anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M với Ngân hàng TMCP B theo yêu cầu khởi kiện của ngân hàng:
Việc ký kết hợp đồng tín dụng số 0099/2018/HDDTD2/BVB005 ngày 02/2/2018 để vay số tiền là 1.000.000.000 đồng, theo Khế ước nhận nợ số 0099/2018/KUNN2/BVB005 đã nhận đủ số tiền này. Hợp đồng tín dụng ký kết giữa ngân hàng và anh T2, chị M trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T2, chị M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nhiều lần Ngân hàng yêu cầu anh chị trả nợ nhưng anh chị đều không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết, toàn bộ khoản nợ của anh chị bị chuyển nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất quá hạn là phù hợp với nội dung thỏa thuận của hai bên đã được ký kết trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ và phù hợp quy định của pháp luật. Như vậy, tính đến ngày 27/9/2024, số tiền gốc anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M nợ Ngân hàng TMCP B là: 988.880.000 đồng (Chín trăm tám mươi tám triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng.)
[3] Về lãi suất:
Khế ước nhận nợ số 0099/2018/KUNN2/BVB005 ngày 02/02/2018, các bên thỏa thuận lãi suất tại thời điểm giải ngân là 7.77%/năm trong vòng 12 tháng đầu; Lãi suất được điều chỉnh 06 tháng/ lần; bằng lãi suất huy động 13 thang trả lãi sau do B1 công bố (+) biên độ tối thiểu 3.55%/năm. Xét thấy việc thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và thông tư số 12/2010/TT – NHNN ngày 14/4/2010 của ngân hàng N1 nên cần được chấp nhận.
[3.1] Về lãi trong hạn:
Tạm tính đến ngày 27/9/2024, khoản nợ lãi trong hạn theo hợp đồng tín dụng số 009/2018/HDDTD2/BVB005 ngày 02/2/2018 và khế ước nhận nợ số 0099/2018/KUNN2/BVB005 ngày 02/02/2018 là: 417.125.092 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi hai đồng.). Việc thỏa thuận về lãi suất trong hạn điều chỉnh lãi suất là phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu về lãi suất trong hạn của ngân hàng được chấp nhận
[3.2] Lãi quá hạn:
- Lãi quá hạn đối với dư nợ gốc bị quá hạn: theo thỏa thuận tại Điểu e, khoản 1 Điều 3 Hợp đồng tín dụng thì lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Như vậy, thỏa thuận này phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, Luật các tổ chức tín dụng và thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 nên cần được chấp nhận. Do vậy, cần buộc anh T2, chị M phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP B số tiền lãi quá hạn trên dư nợ gốc quá hạn tính đến ngày 27/9/2024 là: 399.675.190 đồng (Ba trăm chín mươi chín triệu, sáu trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm chín mươi đồng.)
- Lãi suất áp dụng đối với lãi tiền vay chậm trả: theo thỏa thuận tại điểm f khoản 1 Điều 3 Hợp đồng tín dụng đã ký thì lãi suất chậm trả lãi là 10%/năm. Theo Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 cho phép tính lãi chậm thanh toán lãi tại khoản 4 Điều 8 Nghị quyết này đối với hợp đồng tín dụng ký sau ngày 01/01/2017 nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền tạm tính đến hết ngày 27/9/2024 là: 170.016.368 đồng.
Ngoài ra, Buộc anh T2, chị M phải tiếp tục chịu lãi, phí phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
[4] Về yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp thì thấy: Khi ký kết hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận biện pháp bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 195, tờ bản đồ số 51, có địa chỉ tại phố N, TT. V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 537145, số vào sổ cấp GCN: CS-UH 00149 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 11/11/2015 đứng hộ ông Nguyễn Bá V; chuyển nhượng cho ông Đỗ Viết T2 và vợ là bà Đoàn Thị M3 ngày 30/01/2018. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 0289.2018/HĐTC, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGDVăn phòng C1, thành phố H ngày 31/01/2018. Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng thế chấp được lập đúng theo quy định của pháp luật. Như vậy, thoả thuận về tài sản đảm bảo khoản vay là hợp pháp. Do đó, khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ (không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ) thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là có căn cứ.
Trường hợp phát mại tài sản không đủ để thu hồi nợ thì bị đơn tiếp tục phải trả nợ cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mại tài sản lớn hơn số tiền nợ thì phải trả lại cho chủ tài sản số tiền còn thừa.
Trường hợp anh T2, chị M3 tất toán toàn bộ khoản vay trên thì Ngân hàng TMCP B phải trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho chủ tài sản đảm bảo.
[5] Về án phí: do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật là: 71,270,900 đồng (Bảy mươi mốt triệu, hai trăm bảy mươi nghìn, chín trăm đồng.)
Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6]. Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1, 4 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 41; Điều 147; 227, 228, 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91; 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ các Điều 292 đến 308; Điều 317 đến 324; 463; 466; 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt, vi phạm; thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 về hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bản thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP B với bị đơn anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M;
- Buộc anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 27/9/2024 của Hợp đồng tín dụng số 0099/2018/HĐTD2/BVB005 ngày 02/2/2018 là:
Nợ gốc: 988.880.000 đồng;
Nợ lãi trong hạn: 417.125.092 đồng;
Nợ lãi quá hạn: 399.675.190 đồng
Lãi chậm trả lãi, phí: 170.016.368 đồng.
Tổng số tiền là: 1.975.696.651 đồng.
- Kể từ ngày 28/9/2024, anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất đã được thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ tương ứng với thời gian chậm trả.
- Trường hợp vợ chồng anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP B thì Ngân hàng TMCP B được quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm thu hồi toàn bộ các khoản nợ cho ngân hàng, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 195, tờ bản đồ số 51, có địa chỉ tại phố N, TT. V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 537145, số vào sổ cấp GCN: CS-UH 00149 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 11/11/2015 cho hộ ông Nguyễn Bá V; chuyển nhượng cho vợ chồng anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M ngày 30/01/2018. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 0289.2018, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGDVăn phòng C2, thành phố H ngày 31/01/2018
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP B thì anh T2, chị M có nghĩa vụ tiếp tục trả hết số tiền còn nợ Ngân hàng. Trường hợp xử lý tài sản thế chấp giá trị lớn hơn khoản nợ thì số tiền chênh lệch phải trả lại cho chủ sở hữu tài sản.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Anh Đỗ Viết T2 và chị Đoàn Ngọc M phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 71,270,900 đồng. (Bảy mươi mốt triệu, hai trăm bảy mươi nghìn, chín trăm đồng.)
Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 28.983.898 đồng ( Hai mươi tám triệu, chín trăm tám mươi ba nghìn, tám trăm chín mươi tám đồng) đã nộp tại biên lai số 0058023 ngày 06/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, Tp ..
- Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi thường trú đối với người vắng mặt./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Minh |
Bản án số 119/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 119/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
