Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HS-ST

Ngày 26 - 9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Điệnông Nguyễn Văn Kháng

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2024/TLST - HS ngày 12/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST - HS ngày 16/9/2024 đối với bị cáo:

Đào Văn Đ, sinh năm 1993.

Nơi sinh và nơi cư trú: Khu phố Á, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Văn Đ1 và bà Dư Thị B; Vợ: Hà Thị Thùy D; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo tại ngoại và đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty cổ phần Đ3

Địa chỉ: Ngách D đường N, phường G, quận L, thành phố Hà Nội.

Chi nhánh K

Địa chỉ: 7-Đường Q, Phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Xí nghiệp đầu máy Y, Hà Nội.

Địa chỉ: Y, G, Hà Nội.

Đều vắng mặt.

Đại diện bị hại của Công ty cổ phần Đ3:

Ông Nguyễn Quốc V – Giám đốc

Người được ủy quyền: Ông Đoàn Ngọc C – Phó trưởng phòng kỹ thuật an toàn Công ty cổ phần Đ3.

Địa chỉ: Ngách D đường N, phường G, quận L, thành phố Hà Nội.

Đại diện bị hại của Chi nhánh K:

Ông Nguyễn Mạnh H – Phó Giám đốc

Người được ủy quyền: Ông Phạm Đăng H1 - Trưởng phòng giám sát kỹ thuật và an toàn giao thông đường sắt.

Địa chỉ: 7-Đường Q, Phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Đại diện bị hại của Xí nghiệp Đ4, Hà Nội:

Ông Nguyễn Thanh C1 – Phó Giám đốc

Địa chỉ: Thôn B, Đ, G, Hà Nội.

Đều vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Ngọc N, sinh năm 1967

Địa chỉ: L, Y, G, Hà Nội.

Ông Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1980

Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964

Địa chỉ: C, T, T, Bắc Ninh

Ông Lê Minh N1, sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn Q, xã M, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Văn Đ sinh năm 1993 ở Khu phố Á, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (có giấy phép lái xe ô tô hạng C hợp lệ) làm lái xe thuê cho ông Nguyễn Văn T sinh năm 1964 ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 05 giờ 05 phút, ngày 26/10/2021, Đ điều khiển xe ô tô tải biển số 99C - 172.38 chở hàng vào Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 có địa chỉ ở thôn K, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Sau khi giao hàng xong, Đ điều khiển xe ô tô hướng từ Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 ra đường ĐT 385. Khi đến Km 33+400, lối giao giữa đường dân sinh (không nằm trong hệ thống đường ngang hợp pháp, được hình thành do nhu cầu đi lại của người dân địa phương) và đường sắt H2 - H3 thuộc địa phận xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, do Đ điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không nhường đường cho Đ2 tàu chở hàng số hiệu 33102 của Công ty Cổ phần Đ3 địa chỉ ngách D đường N, phường G, quận L, thành phố Hà Nội do anh Trần Ngọc N sinh năm 1967 ở thôn L, xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội (có giấy phép lái đầu máy Diesel hợp lệ) điều khiển đi trên đường sắt H2- H3, hướng Hải Phòng - Hà Nội nên xe ô tô do Đ điều khiển đã va chạm với đầu tàu D19E-977 của tàu chở hàng số hiệu 33102. Hậu quả: Đoan bị thương nhẹ; xe ô tô tải biển 99C – 172.38; đầu tàu D19E-977 của tàu chở hàng số hiệu 33102 và một số hạng mục công trình đường sắt gồm: 125m đường sắt bị biến dạng; 125 mái đá; 02 tật thanh ray P433=25m; 100 thanh tà vẹt bê tông DUWL TN1 kèm phụ kiện đồng bộ hỏng 30 cái bu long mối P43bị hư hỏng nặng.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường sắt là nơi giao nhau giữa đường sắt tại Km 33+410 (lý trình thực tế Km33+400) với đường ngang dân sinh từ đường ĐT385 đi vào Công ty TNHH T1 có địa chỉ ở thôn K, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; lối đi tự mở nêu trên hình thành do nhu cầu đi lại của người dân địa phương và do lịch sử để lại, không thuộc hệ thống đường ngang hợp pháp, không được các cơ quan có thẩm quyền cấp phép, khu vực đường ngang nơi đây không có rào chắn, không có người gác. Tại vị trí hai bên của lối mở có đặt biển báo, trong đó tại đầu vị trí lối giao hướng từ Công ty TNHH T1 ra đường ĐT385 có đặt biển báo “nơi đường sắt giao vuông góc với đường bộ” và biển báo “Giao nhau với đường sắt không có rào chắn”. Theo hành lang đường sắt về hướng Hà Nội phát hiện xe ô tô tải biển số 99C-172.38 bị nằm đổ nghiêng bên trái, đầu xe quay hướng Hải Phòng đuôi xe quay hướng Hà Nội; đầu máy mang số hiệu D19E-977 bị chệch khỏi đường ray về phía bên trái theo chiều Hải Phòng đi Hà Nội. Trên hành lang đường sắt phát hiện các đám dấu vết trượt đất, dấu vết trượt vỡ mảnh bê tông thanh tà vẹt, dấu vết trượt đổ cột biển báo “Chú ý tàu hoả”, dấu vết rào chắn sóng bị bẹp lõm. Các dấu vết phản ánh rõ hướng di chuyển, cơ chế va chạm của hai phương tiện.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển số 99C-172.38 xác định:

Phát hiện dấu vết va chạm tại thùng xe bên phải theo chiều hướng tác động từ phải sang trái làm bẹp lõm, rách thùng kim loại bong tróc sơn, bám dính nhiều đất bẩn, chất màu đỏ cam (dạng bả sơn). Ngoài ra còn phát hiện thêm các dấu vết va chạm làm bẹp lõm, cong vênh, biến dạng một số bộ phận của xe ô tô. Các dấu vết phản ánh khách quan cơ chế va chạm, hướng di chuyển của hai phương tiện trước thời điểm va chạm và phù hợp với các dấu vết tại hiện trường.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện đầu máy số hiệu D19E-977 xác định:

Phát hiện dấu vết va chạm tại góc phía trước bên trái đầu máy theo chiều hướng tác động từ trước về sau làm bong tróc sơn, bẹp lõm kim loại; phát hiện dấu vết va chạm tại vị trí thanh kim loại gắn phía trước đầu máy theo chiều hướng tác động từ trước về sau, từ trái sang phải làm gãy, bung bật, bóp méo, trên bề mặt còn bám dính chất màu xanh. Ngoài ra còn phát hiện thêm các dấu vết va chạm làm bẹp lõm, cong vênh, biến dạng một số bộ phận của đầu tàu. Các dấu vết phản ánh khách quan cơ chế va chạm, hướng di chuyển của hai phương tiện trước thời điểm va chạm và phù hợp với các dấu vết tại hiện trường.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất kích thích ngày 26/10/2021: Anh Trần Ngọc N và Đào Văn Đ cho kết quả: 0.000 mg/l.

Ngày 02/12/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện V định giá thiệt hại của các tài sản gồm: xe ô tô tải biển số 99C-172.38; đầu máy D19E – 977 của tàu chở hàng số hiệu 3102; 125 mét đường sắt bị biến dạng và 125 mét mái đá bị hư hỏng; 02 tật thanh ray P433L=25m và vỡ hỏng 100 thanh tà vẹt bê tông DƯL TN1 kèm phụ hiện đồng bộ hỏng 30 cái bu lông mối P43. Ngày 28/02/2024 Hội đồng định giá tài sản huyện V có Kết luận định giá tài sản số A, kết luận: Thiệt hại của 125m đường sắt bị biến dạng; 125 mái đá bị hư hỏng tại thời điểm ngày 26/10/2021 có giá trị là: 45.376.015 đồng. Thiệt hại của 02 tật thanh ray P433=25m; vỡ hỏng 100 thanh tà vẹt bê tông DUWL TN1 kèm phụ kiện đồng bộ hỏng 30 cái bu long mối P43 tại thời điểm ngày 26/10/2021 có giá trị là: 103.180.913 đồng. Thiệt hại của ô tô biển số 99C–172.38 tại thời điểm ngày 26/10/2021 bị hư hỏng có giá trị là: 45.700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 194.256.928 đồng.

Thiệt hại của Đầu máy D19E-977 của tàu chở hàng số hiệu 3102 tại thời điểm ngày 26/10/2021 bị hư hỏng Hội đồng định giá tài sản huyện V không xem xét tiến hành định giá (Lý do: Hồ sơ không đầy đủ, không có báo giá sửa chữa của ngành đường sắt, không có hóa đơn, chứng từ sửa chữa) vì đây là tài sản độc quyền của ngành đường sắt do đó Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V không có cơ sở để xem xét tiến hành định giá.

Sau khi tai nạn xảy ra, ngày 04/11/2021 bị can Đào Văn Đ đã tự nguyện bồi thường cho công ty Cổ phần Đ3 số tiền 148.556.928 đồng. Đại diện công ty là ông Đoàn Ngọc C đã nhận đủ số tiền trên và tự nguyện không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với thiệt hại Đầu máy D19E-977 tàu chở hàng số hiệu 3102 của Xí nghiệp Đ4 thuộc Tổng Công ty Đ5 (nay là Xí nghiệp Đ6). Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã yêu cầu Xí nghiệp Đ6 cung cấp các hóa đơn, chứng từ liên quan đến chi phí sửa chữa thiệt hại của Đầu máy D19E-977 nhưng Xí nghiệp Đ6 xác định toàn bộ hóa đơn, chứng từ liên quan đến chi phí sửa chữa thiệt hại Đầu máy D19E-977 đã bị thất lạc và không lưu giữ nên không cung cấp được cho cơ quan điều tra, đồng thời xác định chi phí sửa chữa hết khoảng 34.000.000 đồng. Ngày 05/11/2021, Đ đã tự nguyện bồi thường số tiền 34.000.000 đồng cho Xí nghiệp Đ6. Đại diện công ty là ông Nguyễn Mạnh H đã nhận đủ số tiền trên và tự nguyện không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Cùng ngày 05/11/2021, Đ đã bồi thường cho Ga T - Chi nhánh K thiệt hại chậm tàu và chi phí để cứu viện đầu máy D19E-977 đi sửa chữa với số tiền 26.069.000 đồng. Đại diện Ga Tuấn L là ông Nguyễn Trọng Q đã nhận đủ số tiền trên và tự nguyện không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với thiệt hại của xe ô tô tải biển số 99C-172.38 trị giá 45.700.000 đồng xác định là tài sản của ông Nguyễn Văn T. Ngày 15/12/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại ông T chiếc xe ô tô trên. Ông T đã nhận lại tài sản, tự khắc phục sửa chữa và không có yêu cầu bồi thường gì.

Bị cáo Đào Văn Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và xác định lỗi trong vụ tai nạn do bị cáo điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không nhường đường cho phương tiện giao thông đường sắt được quyền ưu tiên đi trước nên đã xảy ra va chạm với tàu chở hàng số hiệu 3102 do anh Trần Ngọc N điều khiển gây thiệt hại về tài sản trị giá 148.556.928 đồng như nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 111/CT-VKS-VL ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Đào Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Đ phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Áp dụng: Điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đào Văn Đ từ 1 năm 3 tháng đến 1 năm 6 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đào Văn Đ cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong nên không đặt ra để xét.

Về vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại bị cáo Đào Văn Đ 01 giấy phép lái xe số [...] cấp ngày 16/9/2021.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa, bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt họ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám các dấu vết phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, lời khai người làm chứng. Do đó, có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 05 giờ 05 phút ngày 26/10/2021, Đào Văn Đ (có giấy phép lái xe ô tô hạng C hợp lệ) điều khiển xe ô tô biển số 99C - 172.38 hướng từ Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 ra đường ĐT 385. Đến Km 33+400, lối giao giữa đường dân sinh và đường sắt H2 - H3 thuộc địa phận xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, do Đ điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không nhường đường cho tàu chở hàng số hiệu 33102 của Công ty Cổ phần Đ3 do anh Trần Ngọc N (có giấy phép lái đầu máy Diesel hợp lệ) điều khiển đi trên đường sắt H2 – H3, hướng Hải Phòng - Hà Nội nên xe ô tô do Đ điều khiển đã va chạm với đầu tàu D19E-977 của tàu số hiệu 33102. Hậu quả gây thiệt hại về tài sản trị giá 148.556.928 đồng.

Với hành vi điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát khi qua đường sắt, không nhường đường cho tàu khi tham gia giao thông nêu trên của bị cáo đã vi phạm khoản 1 và khoản 4 Điều 25 Luật giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tài sản trị giá 148.556.928 đồng. Đối chiếu với quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an của xã hội nói chung và vô ý gây thiệt hại cho tài sản của người khác nói riêng. Bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức và làm chủ được những hành vi của bản thân. Bị cáo đã được học tập và được cấp giấy phép lái xe ô tô hạng C hợp lệ nên hơn ai hết bị cáo có đủ nhận thức để biết bất kỳ ai khi tham gia giao thông đường bộ cũng đều phải tuân thủ đầy đủ các quy tắc giao thông đường bộ để đảm bảo an toàn cho mình và cho những người khác. Thế nhưng chỉ vì ý thức chủ quan, không chấp hành nghiêm các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ nên bị cáo đã có hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng dẫn đến phạm tội. Trong vụ án này bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập, thực hiện với lỗi vô ý, tội phạm đã hoàn thành. Do đó, cần xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự để răn đe bị cáo và để có tác dụng phòng ngừa chung. Việc đưa bị cáo ra xét xử và có mức hình phạt thỏa đáng nhằm giáo dục bị cáo, đồng thời đấu tranh, tuyên truyền chung là cần thiết.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ cho các bị hại; đại diện của bị hại đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu gì khác về dân sự. Bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy lẽ ra phải áp dụng hình phạt tù giam mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, nếu xử phạt bị cáo hình phạt tù giam cũng gây hệ lụy về mặt xã hội do gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, các con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính, bị cáo được xác định có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, việc không cách ly bị cáo khỏi xã hội cũng không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nên đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo ngoài xã hội, chăm sóc con nhỏ thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước đối với bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình và nghề nghiệp của bị cáo thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về các biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại, đại diện của bị hại Công ty cổ phần Đ3; chi nhánh K và Xí nghiệp đầu máy Y, Hà Nội đã nhận đủ tiền không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất kỳ một khoản tiền nào nữa, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 99C-172.38, ngày 15/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại cho ông Nguyễn Văn T, ông T nhận lại xe tự khắc phục sửa chữa không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xét.

Cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo 01 Giấy phép lái xe số [...] cấp ngày 16/9/2021 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp (hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án) sẽ trả lại bị cáo.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm d Khoản 1 Điều 260; Khoản 1 Điều 46; Điều 47; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Đào Văn Đ 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đào Văn Đ cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Đào Văn Đ 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Đào Văn Đ do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 16/9/2021 khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo Đào Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (Phòng KTNV và THA);
  • - VKS huyện Văn Lâm;
  • - Công an huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Vân Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 119/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger