Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN ND Q.SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 119/2024/HSST

Ngày 25.9.2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Đích, cán bộ hưu trí

-Bà Vũ Thị Lệ Thủy, cán bộ hưu trí

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Lã Phú Huy - Thư ký Tòa án nhân dân

Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa:

Nguyễn Thanh Tuấn Tứ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/HSST ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HS ngày 10.9.2024 đối với các bị cáo:

  1. Ngô Thị Kim N (T), sinh ngày 22.4.2003 tại Hậu Giang. ĐKHKTT: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Chỗ ở: Phòng 301, căn hộ thuộc số: 26, H, phương A, quận S. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nữ. Con ông Ngô Văn Đ ( 1975) và bà Tống Thị Hoa S (1984), Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt ngày 25.9.2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S, TP Đà Nẵng. Có mặt

  2. Bùi Thị Thảo V, sinh ngày 29.9.2000 tại Đồng Tháp. ĐKHKTT: Số F, khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở: Phòng 403, số B, Đ, phường A, quận S. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nữ. Con ông Bùi Văn Đ1 ( 1976) và bà Lê Thị L (1974), Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt ngày 25.9.2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S, TP Đà Nẵng. Có mặt

  3. Nguyễn Nhật Q, sinh ngày 28.10.1998 tại Quảng Nam. ĐKHKTT và chỗ ở: Số H, Võ Chí C, tổ A, khối phố P, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Trình độ văn hoá: 11/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nam. Con ông Nguyễn S1 ( 1974) và bà Nguyễn Thị Ánh N1 ( 1976). Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 01.11.2019, bị Công an huyện D, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

    Bị cáo bị bắt ngày 25.9.2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S, TP Đà Nẵng. Có mặt

  4. Thái Văn T1, sinh ngày 12.11.2003 tại Quảng Nam. ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn P, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.Trình độ văn hoá: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nam. Con ông Thái Văn M ( 1973) và bà Võ Thị yến V1 ( 1977). Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt ngày 25.9.2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S, TP Đà Nẵng. Có mặt

  5. Đoàn Quang Đ2, sinh ngày 12.11.1999 tại Quảng Nam. ĐKHKTT: Tổ 05 thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Trình độ văn hoá: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nam. Con ông Đoàn L1 ( 1963) và bà Nguyễn Thị Thanh T2 ( 1969). Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 10/4/2020, bị Công an thị xã A, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

    Bị cáo bị bắt ngày 04.4.2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S, TP Đà Nẵng. Có mặt

  6. Võ Đình H (Khỏe), sinh ngày 18.3.1991 tại Đà Nẵng. Chỗ ở: 150/6, Dũng Sĩ T, tổ C, Thanh Khê T, T, Đà Nẵng. Trình độ văn hoá: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nam. Con ông Võ Ngọc D ( 1953) và bà Nguyễn Thị Mỹ L2 ( 1955), Vợ Nguyễn Ngọc Băng H1 (1997).

    Tiền sự: Không.

    Tiền án: Ngày 13/9/2021 bị Toà án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/2022. Chưa xóa án tích

    Bị cáo bị bắt ngày 19.12.2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S, TP Đà Nẵng. Có mặt

*Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Quang Đ2 có luật sư Nguyễn Phúc T3, Công ty L4 thuộc Đoàn luật sư T6. Địa chỉ: phòng F Chung cư S L, quận H, TP Đà Nẵng. có mặt

*Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật Q có luật sư Trần Thị D1, Công ty L5 thuộc Đoàn luật sư T6. Địa chỉ: A N, quận H, TP Đà Nẵng. có đơn xét xử vắng mặt

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Dương Viết D2, sinh năm 1975, T4 tại: tổ G, phường A, quận T, TP Đà Nẵng. vắng mặt

  2. Bà Nguyễn Tố T5, sinh ngày 02.11.2006. Người đại diện hợp pháp có bà Nguyễn Thị Ánh N1, sinh năm 1976, T4 tại: Số H, Võ Chí C, tổ A, khối phố P, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Trinh vắng mặt, bà N1 có mặt

*Người chứng kiến: ông Đặng Văn L3, sinh năm 1996, T4 tại: tổ B, phường A, quận S, TP Đà Nẵng. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 22 giờ ngày 24/9/2023, Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an quận S phối hợp cùng Công an phường A, quận S, TP Đà Nẵng kiểm tra phòng 301, căn hộ số: 26, H, phường A, quận S. Thời điểm kiểm tra có mặt: Nguyễn Nhật Q, Thái Văn T1, Bùi Thị Thảo V và Ngô Thị Kim N có nghi vấn về sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra phát hiện trong phòng có: 01 bình sắt màu xanh (không có khí, nghi là bình chứa khí cười); 01 đĩa sứ màu trắng; 01 đèn leser màu xám; 1 thẻ nhựa có in dòng chữ “ MELIA VINPEARL HOTEL & RESORTS"; 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền 10.000 đồng, 01 loa nghe nhạc. Qua làm việc cả 04 đối tượng khai nhận đã cùng nhau sử dụng ma túy vào tối ngày 23/9/2023 và đã kết thúc việc sử dụng trái phép chất ma túy vào lúc 03 giờ ngày 24/9/2023. Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an quận S tiến hành lập biên bản kiểm tra vụ việc và tạm giữ các tang vật liên quan.

*Tang vật thu giữ

  • 01 dĩa sứ màu trắng, ký hiệu niêm phong là N;

  • 01 bình sắt màu xanh (không có khí, nghi là bình chứa khí cười);

  • 01 đèn laser màu xám;

  • 01 thẻ nhựa có in dòng chữ “MELIA VINPEARL HOTEL&RESORTS";

  • 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền 10.000 đồng tiền Việt Nam;

  • 01 loa nghe nhạc.

  • 01 điện thoại di động hiệu iphone 14 Pro max số imel:3582818619897992 gắn sim: 0563421107 của V.

  • 01 điện thoại di động hiệu iphone màu tím số imel: 359702374572814 gắn sim số: 0767837777 của Q.

  • 01 điện thoại di động hiệu iphone 14 Pro max số imel:359265385370610 gắn sim: 0774714002 của N.

  • 01 điện thoại di động hiệu iphone 13 Pro max có số imel:353324650531483, gắn sim số: 0767708130 (bị vỡ mặt sau) của T1.

* Qua điều tra xác định:

Vào khoảng chiều tối ngày 23/9/2023, Nguyễn Nhật Q đến căn hộ S H, phường A, quận S, TP Đà Nẵng của Ngô Thị Kim N để chơi (theo lời khai của Q, trong lúc ngồi chơi tại nhà của N thì N rủ Q sử dụng trái phép chất ma tuý, một lúc sau thì Bùi Thị Thảo V đến; tuy nhiên N không thừa nhận việc rủ Q sử dụng trái phép chất ma tuý; theo lời khai của N và V, sau khi V đến nhà của N, trong phòng lúc này có ba người thì Q nói đang buồn chuyện gia đình nên rủ N, V cùng sử dụng trái phép chất ma túy). Tiếp đó, V điện thoại rủ Thái Văn T1 đến phòng N sử dụng ma túy và liên hệ qua ứng dụng Facebook có tài khoản tên “Tường Vi” (không rõ nhân thân lai lịch) để thuê loa với số tiền 500.000 đồng. Khi người cho thuê loa đến, N và V xuống lấy đem lên phòng, V cắm loa vào ổ điện kết nối với điện thoại của V để mở nhạc; N bật đèn (đèn N mượn của một người bạn ngoài xã hội không rõ lai lịch).

Sau đó, N liên hệ với Võ Đình H mua nửa hộp Ketamine, 01 viên thuốc lắc và gói ma túy nước vui F. H đồng ý bán, N nói H mang ma túy đến phòng trọ cho N (N cho H số mật mã khoá phòng của N để H đến tự mở cửa vào). Sau đó, H gọi điện cho một người tên H2 (không rõ nhân thân lai lịch, không nhớ số điện thoại) mua nửa hộp Ketamine, 01 viên thuốc lắc và gói ma túy nước vui Ferrari với số tiền 6.000.000 đồng. H2 hẹn H đến khu vực bến xe Đ để thực hiện việc mua bán ma tuý. Sau khi mua được ma tuý, H mang đến phòng 301, căn hộ S H, phường A, quận S và bán cho N với số tiền 6.600.000 đồng. N nói Q trả tiền ma tuý nên Q dùng số tài ngân hàng M1: 6665678977777 của mình chuyển số tiền 6.600.000 đồng mua ma túy vào tài khoản ngân hàng M1 số 0905179707 của Võ Đình H. Sau khi Q chuyển khoản tiền mua ma tuý thì H ra về.

Một lúc sau, khi T1 đến phòng N ngồi chơi thì Đoàn Quang Đ2 (SN: 1999; trú tại: Thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam) gọi điện nhờ T1 đến đường P, quận S để chở Đ2 về phòng của N (trước đó N rủ Đ2 đến phòng của N ăn uống nên Đ2 thuê xe đi từ Quảng Nam ra Đà Nẵng). Tín đến đón Đ2 sau đó cả hai ghé một tiệm tạp hoá mua đồ ăn và nước uống mang về phòng của N. Khi T1 và Đ2 đến phòng N, ma tuý đã để sẵn trên bàn (thuốc lắc Q bẻ ra sử dụng một mảnh rồi để lại trên bàn, ma tuý nước vui chưa xác định được ai pha để trên bàn ai sử dụng thì tự lấy); V nói T1 đưa tiền cho N để N trả tiền thuê loa cho người có tên “Tường Vi”. Một lúc sau, Đ2 lấy đĩa sứ hơ nóng trên bếp điện đưa cho T1, T1 đổ ma túy Ketamine ra đĩa rồi dùng thẻ nhựa xào và kẻ thành nhiều đường cho mọi người sử dụng (ống hút chưa xác định được ai cuốn). Q, N, T1 sử dụng thuốc lắc; ma tuý Ketamine và nước vui tất cả cùng sử dụng. Tất cả cùng sử dụng ma túy đến khoảng 03 giờ ngày 24/9/2023 thì nghỉ. Đ2 đi về, V và T1 về phòng trọ tại đường Đ để nghỉ ngơi. Vào tối ngày 24/9/2024 thì T1 và V quay trở lại phòng của N để ăn uống. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an quận S phối hợp cùng Công an phường A, quận S, TP Đà Nẵng kiểm tra phát hiện, lập biên bản vụ việc và tạm giữ Q, T1, V, N cùng tang vật.

Kết quả xét nghiệm ma túy: Ngô Thị Kim N, Nguyễn Nhật Q, Thái Văn T1, Bùi Thị Thảo V đều dương tính với chất ma túy tổng hợp; Đoàn Quang Đ2, Võ Đình H âm tính với ma tuý.

Ngày 19/12/2023, Võ Đình H ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định số: 835/KL-KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng K Công an T7 xác định: Trên đĩa sứ màu trắng gửi giám định ký hiệu N có bám dính chất ma tuý, loại Ketamine.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 106/CT-VKS-ST ngày 09.9.2024 và đề nghị mức án:

  • -Đối với bị cáo Ngô Thị Kim N: Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử sụng trái phép chất ma túy”

  • -Đối với bị cáo Bùi Thị Thảo V: Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, khoản 2 Điều 54 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử sụng trái phép chất ma túy”

  • -Đối với bị cáo Nguyễn Nhật Q: Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, khoản 2 Điều 54 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử sụng trái phép chất ma túy”

  • -Đối với bị cáo Thái Văn T1: Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, khoản 2 Điều 54 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù về tội “Tổ chức sử sụng trái phép chất ma túy”

  • -Đối với bị cáo Đoàn Quang Đ2: Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 255, Điều 38, Điều 58, khoản 2 Điều 54 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử sụng trái phép chất ma túy”

  • -Đối với bị cáo Võ Đình H: Căn cứ khoản 1, Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

*Về xử lý vật chứng: đề nghị

  • +Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả có đóng dấu của Phòng K Công an T7 theo Kết luận giám định số:835/GĐ-MT ngày 03.10.2023; 01 thẻ nhựa có in dòng chữ “Melia vinpearl hotel & resort"

  • +Tịch thu sung công: 01 ống hút được cuốn từ tờ tiền 10.000 đồng; 01 bình sắt màu xanh (bên trong không có khí); 01 đèn laser màu xám; 01 loa nghe nhạc; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 pro max màu tím, số imel: 359265385370610, gắn sim số 0774714002 của Ngô Thị Kim N; 01 điện thoại di động hiệu iphone 14 Promax số imel: 3582818619897992 gắn sim 0563421107 của Bùi Thị Thảo V.

  • +Tuyên trả lại cho Nguyễn Tố T5: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu tím, số imel: 359702374572814, gắn sim số 0767837777 bị nứt màn hình.

  • +Quy trữ để đảm bảo thi hành án 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 pro max màu xanh, số imel: 35332465053483, gắn sim số 0767708130 (bể nát mặt sau, không lên nguồn, không kiểm tra được imel) của Thái Văn T1.

  • - Truy thu số tiền 600.000 đồng bán ma túy của Võ Đình H đây là tiền thu lợi bất chính.

* Tại phiên tòa, các bị cáo N, V, Q, T1 và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật Q có luận cứ bào chữa: thống nhất với bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện VKSND quận Sơn Trà về tội danh, điều luật cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo

*Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Quang Đ2: không thống nhất với bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện VKSND quận Sơn Trà về tội danh, bị cáo Đ2 không có hành vi hơ dĩa mà chỉ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Đ2 không có tội.

* Bị cáo Đoàn Quang Đ2 cho rằng bị cáo không phạm tội như cáo trạng truy tố.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo N, V, Q, T1 và H đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải, về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Đ2 không có lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản vụ việc và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23/9/2023, tại phòng 301, căn hộ S H, phường A, quận S, TP Đà Nẵng, Nguyễn Nhật Q, Bùi Thị Thảo V, Ngô Thị Kim N đã có hành vi cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy.

Để có ma túy sử dụng Ngô Thị Kim N liên lạc với Võ Đình H mua nửa hộp Ketamine, 01 viên thuốc lắc và gói ma túy nước vui F. H đồng ý bán, N nói H mang ma túy đến phòng trọ cho N (N cho H số mật mã khoá phòng của N để H đến tự mở cửa vào). Số ma túy này H mua của một người tên H2 (không rõ lai lịch) mua nửa hộp Ketamine, 01 viên thuốc lắc và gói ma túy nước vui Ferrari với số tiền 6.000.000 đồng. H2 hẹn H đến khu vực bến xe Đ để thực hiện việc mua bán ma tuý. Khi nhận ma túy H đem bán cho N với giá 6.600.000 đồng, N nói Q chuyển trả tiền cho H.

Bùi Thị Thảo V điện thoại rủ Thái Văn T1 đến cùng sử dụng ma túy, V liên hệ qua ứng dụng Facebook có tài khoản tên “Tường Vi” (không rõ nhân thân lai lịch) để thuê loa với số tiền 500.000 đồng. N và V là người xuống lấy loa, V là người cắm loa vào ổ điện để kết nối điện thoại của V để mở nhạc, N là người bật đèn.

Sau khi đến phòng N thì Thái Văn T1 đi đón Đoàn Văn Đ3, khi T1 và Đ3 về phòng thấy ma túy để sẵn trên bàn, V nói T1 đưa tiền để trả tiền loa. Đ3 là người hơ nóng đĩa sứ đưa cho T1 xào Ketamine cho cả nhóm cùng sử dụng. Đến khoảng 22h cùng ngày thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện tạm giữ toàn bộ tang vật 01 dĩa sứ có bám dính chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu N.

Tại Kết luận giám định số: 835/KL-KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng K Công an T7 xác định: Trên đĩa sứ màu trắng gửi giám định ký hiệu N có bám dính chất ma tuý, loại Ketamine.

[3] Như vậy các bị cáo Ngô Thị Kim N, Bùi Thị Thảo V, Nguyễn Nhật Q, Thái Văn T1 và Đoàn Quang Đ2 đã có sự chuẩn bị địa điểm, thời gian, chuyển tiền để mua ma túy, phương tiện để cùng nhau sử dụng ma túy trái phép. Hành vi chuẩn bị địa điểm, tụ tập, cung cấp chất ma túy, dụng cụ để cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[4] Đối với bị cáo Võ Đình H đã mua của đối tượng H2 6.000.000 đồng tiền ma túy gồm nửa hộp Ketamine, 01 viên thuốc lắc và gói ma túy nước vui F. Bị cáo đã bán lại cho số ma túy trên cho Ngô Thị Kim N với giá 6.600.000 đồng với mục đích kiếm lời. Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo đã đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 BLHS.

Do đó, Cáo trạng số 106/CT-VKS-ST ngày 09.9.2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội danh và điều khoản áp dụng.

[3]. Xét tính chất vụ án thì thấy: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy rõ được tác hại nguy hiểm của ma túy có khả năng gây nghiện mạnh, nguy hiểm cho sức khỏe con người nhưng lại cố ý tụ tập, tổ chức, tạo điều kiện cho nhiều người khác cùng sử dụng ma túy. Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm rất lớn cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ra nhiều tệ nạn, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời còn xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe con người và lan tràn tệ nạn nghiện hút.

[4]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

  • - Đối với các bị cáo Ngô Thị Kim N: Bị cáo đã dùng nhà mình thuê làm địa điểm để cả nhóm tổ chức sử dụng ma túy, bị cáo là người liên hệ bị cáo Võ Đình H để mua ma túy và cùng bị cáo Bùi Thị Thảo V xuống đem loa, mượn đèn, bật đèn cho cả nhóm cùng sử dụng ma túy. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, nhưng bị cáo vẫn thực hiện và thực hiện với lỗi cố ý nên cũng cần phải xử lý nghiêm.

  • -Đối với bị cáo Bùi Thị Thảo V: Bị cáo cùng Q và N cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy, bị cáo là người rủ bị cáo Thái Văn T1 cùng đến phòng của N để cùng sử dụng ma túy. Bị cáo là người liên lạc thuê loa với giá 500.000 đồng, khi có người đem loa đến bị cáo cùng N xuống nhận và đem loa, mượn đèn, bật đèn cho cả nhóm cùng sử dụng ma túy. Do đó, bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

  • - Bị cáo Nguyễn Nhật Q cùng Ngô Thị Kim NBùi Thị Thảo V tổ chức sử dụng ma túy. Sau khi N liên lạc với H để mua ma túy, bị cáo là người chuyển trả tiền mua ma túy. Nên hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục.

  • -Đối với bị cáo Thái Văn T1 khi được bị cáo V rủ đến phòng bị cáo N sử dụng ma túy bị cáo là người trả tiền thuê loa và là người nhận dĩa từ Đ2 trực tiếp xào Ketamine cho cả nhóm cùng sử dụng nên cũng cần phải xử lý nghiêm.

  • -Đối với bị cáo Đoàn Văn Đ3: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Nhật Q, Ngô Thị Kim N, Bùi Thị Thảo V và Thái Văn T1 thể hiện tại các bút lục 204,237,253, 279,312,319,546,657,557. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khi được T1 chở đến phòng N thì Đ3 đã thấy ma túy để sẵn trên bàn Đ3 lấy đĩa sứ hơ nóng trên bếp đưa cho T1 để đổ ma túy Ketamine ra đĩa rồi dùng thẻ nhựa xào và kẻ thành nhiều đường cho mọi người sử dụng (ống hút chưa xác định được ai cuốn). Q, N sử dụng thuốc lắc; ma tuý Ketamine và nước vui tất cả cùng sử dụng. Mặc dù bị cáo không có mặt từ đầu, nhưng khi bị cáo đến phòng N thấy ma túy trên bàn và các dụng cụ như đèn, loa là các phương tiện giúp cho các bị cáo hưng phấn khi sử dụng ma túy và bị cáo là người trực tiếp lấy đĩa sứ hơ nóng để cho mọi người sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình.

  • Đối với đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo Đoàn Quang Đ2 cho rằng bị cáo Đ2 không phạm tội như cáo trạng truy tố. Như đã phân tích ở trên căn cứ vào chứng cứ và lời khai của các bị cáo N, V, Q, T1 nên HĐXX có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, nên không có cơ sở chấp nhận đề nghị của Luật sư.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ; tăng nặng và nhân thân của các bị cáo thì thấy:

  • -Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên hôm nay, các bị cáo Nguyễn Nhật Q, Ngô Thị Kim N, Bùi Thị Thảo V, Thái Văn T1 và Võ Đình H khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Q có nhiều đóng góp cho công tác thiện nguyện, bị cáo H đã tự ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51BLHS.

  • Riêng đối với bị cáo Đoàn Văn Đ3 trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, quanh co chối tội nên không áp dùng tình tiết thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

  • Đối với bị cáo V, Q, T1, Đ3 tham gia với vai trò thứ yếu nên cần áp dụng khoản 2 Điều 54 BLHS để giảm nhẹ cho các bị cáo.

  • -Tình tiết tăng nặng: Bị cáo H có 01 tiền án ngày 13/9/2021 bị Toà án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/2022. Chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

[6]. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự.

[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

  • +Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả có đóng dấu của Phòng K Công an T7 theo Kết luận giám định số:835/GĐ-MT ngày 03.10.2023; 01 thẻ nhựa có in dòng chữ “Melia vinpearl hotel & resort"

  • +Tịch thu sung công: 01 ống hút được cuốn từ tờ tiền 10.000 đồng; 01 bình sắt màu xanh (bên trong không có khí); 01 đèn laser màu xám; 01 loa nghe nhạc; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 pro max màu tím, số imel: 359265385370610, gắn sim số 0774714002 của Ngô Thị Kim N; 01 điện thoại di động hiệu iphone 14 Promax số imel: 3582818619897992 gắn sim 0563421107 của Bùi Thị Thảo V.

  • +Tuyên trả lại cho Nguyễn Tố T5: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu tím, số imel: 359702374572814, gắn sim số 0767837777 bị nứt màn hình.

  • +Quy trữ để đảm bảo thi hành án 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 pro max màu xanh, số imel: 35332465053483, gắn sim số 0767708130 (bể nát mặt sau, không lên nguồn, không kiểm tra được imel) của Thái Văn T1.

  • - Truy thu số tiền 600.000 đồng bán ma túy của Võ Đình H đây là tiền thu lợi bất chính.

[8] - Đối với đối tượng tên H2 đã bán ma tuý cho H: Hiện chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận S tách ra tiếp tục điều tra và xử lý sau là phù hợp.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Q, T1, V, N: Công an quận S, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

- Đối với ông Dương Viết D2 (SN : 1975; trú tại: Tổ G phường A, quận T, TP .): Là chủ sở hữu phòng 301, căn hộ S H, phường A, quận S, TP Đà Nẵng. Ông D2 cho N thuê phòng để ở. Ông D2 không biết N sử dụng trái phép chất ma tuý tại căn hộ của mình nên Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập xử lý hình sự đối với ông D2 là có căn cứ.

[9] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Về tội danh:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Nhật Q; Ngô Thị Kim N; Bùi Thị Thảo V; Thái Văn T1 và Đoàn Văn Đ3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

-Bị cáo Võ Đình H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuỷ”

II. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

  1. Đối với bị cáo Ngô Thị Kim N: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm b khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo 07 năm (bảy năm) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25.9.2023.

  2. Đối với bị cáo Bùi Thị Thảo V: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm b khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo 06 năm (sáu năm) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25.9.2023.

  3. Đối với bị cáo Nguyễn Nhật Q: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo 06 năm (sáu năm) tù tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25.9.2023.

  4. Đối với bị cáo Thái Văn T1: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm b khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo 05 năm 6 tháng (năm năm sáu tháng) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25.9.2023.

  5. Đối với bị cáo Đoàn Quang Đ2: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 58; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo 05 năm 9 tháng (năm năm chín tháng) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04.4.2024.

  6. Đối với bị cáo Võ Đình H: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo 02 năm 6 tháng (hai năm sáu tháng) tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19.12.2023.

III.Về xử lý vật chứng:

áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên:

  • +Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả có đóng dấu của Phòng K Công an T7 theo Kết luận giám định số:835/GĐ-MT ngày 03.10.2023; 01 thẻ nhựa có in dòng chữ “Melia vinpearl hotel & resort"

  • +Tịch thu sung công: 01 ống hút được cuốn từ tờ tiền 10.000 đồng; 01 bình sắt màu xanh (bên trong không có khí); 01 đèn laser màu xám; 01 loa nghe nhạc; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 pro max màu tím, số imel: 359265385370610, gắn sim số 0774714002 của Ngô Thị Kim N; 01 điện thoại di động hiệu iphone 14 Promax số imel: 3582818619897992 gắn sim 0563421107 của Bùi Thị Thảo V.

  • +Tuyên trả lại cho Nguyễn Tố T5: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu tím, số imel: 359702374572814, gắn sim số 0767837777 bị nứt màn hình.

  • +Quy trữ để đảm bảo thi hành án 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 pro max màu xanh, số imel: 35332465053483, gắn sim số 0767708130 (bể nát mặt sau, không lên nguồn, không kiểm tra được imel) của Thái Văn T1.

  • - Truy thu số tiền 600.000 đồng bán ma túy của Võ Đình H đây là tiền thu lợi bất chính.

5. Án phí HSST: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng

6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - VKSND quận Sơn Trà
  • - VKS ND TPĐN, TAND TPĐN
  • - Công an quận Sơn Trà
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng
  • - Trại giam Công an TPĐN
  • - Sở Tư pháp
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 119/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Ngô Thị Kim N, Bùi Thị Thảo V, Nguyễn Nhật Q, Thái Văn T và Đoàn Quang Đ bị truy tố về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và bị cáo Võ Đình H bị truy tố về tội "mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger