TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/DS-ST
Ngày 20/9/2024
V/v: “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc lúa”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Lập
Bà Đinh Thị Phương Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang: không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 20/ tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 222/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc lúa”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Trường T
Địa chỉ: Tổ F, ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Chí S – Chức vụ: Giám đốc Công ty.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trương Thu T1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số G N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Ông Đặng Văn T2, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang
(Các đương sự có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung khởi kiện, nguyên đơn Công ty TNHH T trình bày như sau:
Vào ngày 19/12/2021, Công ty TNHH T có lập hợp đồng nhận đặt cọc bao tiêu lúa đài thơm + lúa OM vụ Đ xuân năm 2021 với ông Đặng Văn T2. Theo thoả thuận, Công ty sẽ đặt cọc cho ông T2 2.200 công, giá 500.000 đồng/01 công, tổng số tiền đặt cọc là 1.100.000.000 đồng (một tỷ một trăm triệu đồng). Đến ngày 29/03/2022, ông T2 có trách nhiệm giao lúa cho Công ty khi thu hoạch 2.200 công hoặc hoàn lại cho Công ty tiền cọc là 1.100.000.000 + tiền chênh lệch giá lúa là 220.000.000 đồng = 1.320.000.000 đồng.
Tuy nhiên, đến thời điểm cắt lúa ông T2 không giao lúa cho Công ty như đã thỏa thuận, đồng thời cũng không trả lại tiền đặt cọc và tiền chênh lệch giá lúa. Tổng cộng số tiền là 1.320.000.000 đồng (một tỷ ba trăm hai mươi triệu đồng).
Đến ngày 11/05/2022 ông T2 mới trả cho Công ty TNHH T được số tiền là 50.000.000 đồng, ông T2 nói do nông dân không trả tiền cọc cho ông nên ông chưa có tiền trả cho Công ty. Đến ngày 03/6/2022, ông T2 viết biên nhận nợ Công ty T số tiền 1.270.000.000 đồng và hứa đến ngày 15/07/2022 sẽ trả đủ.
Sau đó ông T2 giao cho Công ty thêm 02 đợt lúa giống khoảng 10.800kg x 19.000 đồng/kg = 205.200.000 đồng nên còn nợ lại số tiền là 1.064.800.000 đồng.
Nay Công ty TNHH T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất giải quyết buộc ông Đặng Văn T2 phải trả cho Công ty T số tiền 1.064.800.000 đồng (một tỷ không trăm sáu mươi bốn triệu tám trăm ngàn đồng).
* Bị đơn ông Đặng Văn T2 trình bày:
Ông thừa nhận có hợp đồng đặt cọc lúa với Công ty T đúng như trình bày của nguyên đơn. Do ông làm ăn bị lỗ nên đến nay còn nợ lại tiền của Công ty T số tiền 1.016.445.000 đồng. Theo đơn khởi kiện, công ty kiện ông số tiền 1.064.800.000 đồng là không chính xác vì chưa trừ đi số tiền 48.355.000 đồng ông có giao trước đây.
Nay ông không có khả năng trả 01 lần cho Công ty T nên xin được trả dần cho Công ty, mỗi năm là 400.000.000 đồng.
* Tại phiên tòa:
Bà Trương Thu T1 – người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thống nhất với số nợ ông T2 trình bày là 1.016.445.000 đồng. Bà không đồng ý với phương thức trả nợ của ông T2. Bà chỉ cho ông T2 trả dần trong vòng 01 năm, chia thành 04 đợt, 3 tháng trả 01 đợt. Nếu ông T2 không đồng ý thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về nội dung vụ án: Vào ngày 19/12/2021, Công ty TNHH T và ông Đặng Văn T2 có ký hợp đồng đặt cọc bao tiêu lúa đài thơm + lúa OM vụ Đông xuân năm 2021. Theo đó Công ty Đ2 cho ông T2 2.200 công, giá 500.000 đồng/01 công, tổng số tiền đặt cọc là 1.100.000.000 đồng. Đến ngày 29/03/2022, ông T2 có trách nhiệm giao lúa cho Công ty hoặc hoàn lại cho Công ty tiền cọc là 1.100.000.000 + tiền chênh lệch giá lúa là 220.000.000 đồng = 1.320.000.000 đồng. Tuy nhiên đến thời điểm giao lúa, ông T2 không có lúa để giao và cũng không thanh toán lại tiền cọc và tiền chênh lệch giá cho Công ty TNHH T.Tính đến nay ông T2 mới trả được cho Công ty số tiền 50.000.000 đồng và 2 đợt lúa giống 10.800kg.
Trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay, các bên đều thống nhất số tiền ông T2 còn nợ Công ty TNHH T là 1.016.445.000 đồng nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Như vậy việc ông T2 không thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH T, vi phạm Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên yêu cầu khởi kiện của Công ty T có căn cứ để HĐXX chấp nhận.
Bị đơn Đặng Văn T2 có yêu cầu được trả dần mỗi năm 400.000.000 đồng nhưng nguyên đơn không đồng ý nên HĐXX không ghi nhận được.
Từ những cơ sở trên, sau khi thảo luận nghị án, HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Đặng Văn T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
- - Công ty TNHH T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Áp dụng Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015.
- - Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Buộc ông Đặng Văn T2 có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH T số tiền 1.016.445.000 đồng (Một tỷ, không trăm mười sáu triệu, bốn trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp khoản tiền trên, người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Ông Đặng Văn T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 42.493.000 đồng (Bốn mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi ba nghìn đồng).
- Công ty TNHH T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền 21.972.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, chín trăm bảy mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004190 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (do Nguyễn Văn Đ1 nộp thay).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |
Bản án số 119/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc lúa
- Số bản án: 119/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc lúa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng đặt cọc lúa
