Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HS-ST

Ngày 30/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Quý và bà Nguyễn Thị Thủy

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo – Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hải Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Minh Đ, tên gọi khác: không; sinh ngày: 14/4/1994 tại huyện V, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: tổ B, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Hà Xuân T và bà Nguyễn Thị G; vợ: Hồ Thu N và có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 25/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”. Ngày 25/3/2022, chấp hành xong bản án; bị cáo đầu thú ngày 15/4/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: ông Đặng Quốc A – Luật sư thuộc Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q, có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: anh Bùi Đức H, sinh năm: 2000, nơi cư trú: tổ C, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Văn B, sinh năm: 1991, nơi cư trú: tổ A, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.

* Người làm chứng: các chị: Bùi Thị Cẩm T1, Ngô Thị Phương T2; các anh: Nguyễn Mạnh T3, Vũ Anh L và ông Phạm Văn T4, đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm, không thu nhập để trang trải cho việc trả nợ và ăn tiêu Hà Minh Đ đã nảy sinh ý định đi thuê xe ô tô để cầm cố, ngày 26/01/2024 tại tổ D, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, thông qua chị Bùi Thị Cẩm T1, Hà Minh Đ đã ký hợp đồng thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, màu trắng biển kiểm soát 14A – 850.54 với anh Bùi Đức H, hai bên thoả thuận thời hạn thuê từ ngày 26/01/2024 đến ngày 28/01/2024, giá thuê là 900.000đ/1 ngày. Sau khi thuê được xe, Đ mang chiếc xe đó đến cầm cố cho anh Nguyễn Văn B lấy số tiền 70.000.000 đồng (anh B giao tiền mặt cho Đ, hai bên không lập hợp đồng cầm cố). Nhận xe ô tô từ Đ, anh B điều khiển xe ô tô đến nhà ông Phạm Văn T4, sinh năm 1968, trú tại tổ A, khu N, phường C, thành phố C để gửi nhờ, ông T4 đồng ý cho gửi thì B để chiếc xe tại sân nhà ông T4, anh B dùng dây cáp khoá bánh chiếc xe ô tô lại.

Đến ngày 01/02/2024 - hết hạn thuê nhưng anh H không thấy Đ trả xe, qua thiết bị định vị biết xe đang để ở khu vực nhà ông T4, do không liên lạc được với Đ, anh H đã rủ vợ chồng chị Bùi Thị Cẩm T1 và anh Nguyễn Mạnh T3 cùng đi lấy xe về. Khi đến nơi, thấy xe bị khóa, anh HT3 đến khu vực chợ C1 mua kìm, quay lại nhà ông T4 anh H tự vào và cắt khoá ở bánh xe ô tô điều khiển xe đi về. Khoảng 00 giờ ngày 02/02/2024, ông T4 phát hiện chiếc xe ô tô đã bị mất và báo anh B biết. Anh B đã đến Công an thành phố C trình báo.

Sau khi được anh anh B đưa tiền cầm cố chiếc xe ô tô Huyndai Accent, màu trắng biển kiểm soát 14A – 850.54, Đ đã ăn tiêu hết rồi bỏ trốn, ngày 15/4/2024 Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đầu thú.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 709/KL-HĐĐGTX ngày 20/3/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố C, kết luận: chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, màu trắng biển kiểm soát 14A – 850.54 trị giá 277.542.000 đồng (hai trăm bảy mươi bảy triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả chiếc xe ô tô cho anh Bùi Đức H.

Bản Cáo trạng số 2138/CT-VKSCP ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Hà Minh Đ về tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Hà Minh Đ khai nhận về hành vi phạm tội cụ thể như sau: bị cáo có quen biết với anh Nguyễn Văn B và nhiều lần vay tiền của anh B để ăn tiêu, tổng số tiền bị cáo vay của anh B là 307.700.000 đồng. Do không có việc làm, không có tiền tiêu sài cá nhân và đang nợ tiền anh B không có tiền trả nên ngày 26/01/2024 bị cáo đã nảy sinh ý định đi thuê xe ô tô để cầm cố, sau đó bị cáo đã thuê xe của anh H mang đến cầm cố cho anh B. Bị cáo khẳng định khi cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, màu trắng biển kiểm soát 14A – 850.54 giữa bị cáo và anh B không làm hợp đồng cầm cố, hai bên thoả thuận tiền cầm cố là 70.000.000 đồng, khi nhận xe anh Bằng không kiểm tra

giấy tờ xe, do trừ tiền nợ cũ và cắt lãi đi thì anh B đưa cho bị cáo 35.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày hẹn trả xe cho anh H, chị T1 có gọi điện cho bị cáo đòi xe ô tô, do chưa có tiền lấy về nên bị cáo gia hạn thuê thêm 03 ngày nữa thì chị T1 đồng ý, sau đó bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương và ăn tiêu hết số tiền cầm chiếc xe. Khi nhận được thông tin Công an triệu tập để làm việc thì ngày 15/4/2024 bị cáo đã đến Công an thành phố C để đầu thú, quá trình bị tạm giam bị cáo đã động viên gia đình tự nguyện bồi thường cho anh H số tiền thuê xe là 4.500.000 đồng và thay bị cáo nộp số tiền cầm cố xe cho anh B tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả là 70.000.000 đồng để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Số tiền còn nợ của anh B là giao dịch dân sự và sẽ trả cho anh B sau. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan. Bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình, vợ bị cáo mới sinh con nhỏ vào năm 2023, hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.

Tại phiên toà, người bào chữa của bị cáo Hà Minh Đ có quan điểm: việc truy tố và xét xử đối với bị cáo Đ là đúng, do nông nổi, không có việc làm và thu nhập ổn định để trang trải cuộc sống gia đình nên đã đi vào con đường phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, xử bị cáo với mức án thấp nhất để bị cáo được yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Anh Bùi Đức H – là bị hại có lời khai tại Cơ quan điều tra và đơn xin xử án vắng mặt cụ thể như sau: anh và bị cáo có mối quan hệ quen biết nhau, không có mâu thuẫn gì, anh là chủ xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, màu trắng biển kiểm soát 14A-850.54, ngày 26/01/2024 thông qua chị Bùi Thị Cẩm T5 anh và bị cáo Đ đã ký hợp đồng thuê xe ô tô với nhau, giá thuê xe là 900.000 đồng/ngày, thời hạn thuê lúc đầu là 02 ngày, anh đã giao xe ô tô cùng với giấy tờ xe cho bị cáo có sự chứng kiến của chị T5 tại khu vực sau Vincom C thuộc phường C, sau đó bị cáo gia hạn thuê thêm 03 ngày nữa. Ngày 01/2/2024 không thấy bị cáo trả xe và không liên lạc được với bị cáo nên anh đã cùng với vợ chồng chị T5 đi tìm xe. Do xe có lắp thiết bị định vị nên anh biết xe ô tô của anh đang ở khu vực bến xe đội A thuộc phường C, thành phố C. Khi đến nơi anh thấy chiếc xe đang đỗ trong sân một nhà dân, thấy xe bị khoá bằng dây cáp nên anh đi mua kìm về rồi đến vị trí xe cắt dây cáp, điều khiển xe ô tô mang về nhà. Anh đã được gia đình bị cáo trả số tiền thuê xe là 4.500.000 đồng nên không yêu cầu gì khác và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Anh Nguyễn Văn B – là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có lời khai cụ thể như sau: anh và bị cáo là bạn bè quen biết nhau, bị cáo đã rất nhiều lần vay tiền của anh, mỗi lần cho vay anh thường chuyển khoản (lần đầu tiên anh nhờ bạn là Ngô Thị Phương T2 chuyển số tiền 94.000.000 đồng), sau đó anh sử dụng tài khoản mang tên Vũ Ánh Lê C và nhận tiền trả nợ từ bị cáo, từ cuối tháng 11/2023 cho đến ngày 28/01/2024 tổng số tiền bị cáo còn vay của anh là 495.000.000 đồng (bao gồm cả tiền cầm cố chiếc xe ô tô Accent, màu

trắng, biển kiểm soát 14A-850.54 vào ngày 27/01/2024 để lấy số tiền 187.300.000 đồng còn số tiền vay trước đó là 307.700.000 đồng). Việc bị cáo và anh cầm cố chiếc xe ô tô này không có hợp đồng, vì tin tưởng nên anh không kiểm tra giấy tờ xe, anh đưa tiền mặt cho bị cáo và nhận xe. Ngày 28/01/2024 anh điều khiển xe đến nhà ông Phạm Văn T4 để gửi nhờ, trong quá trình gửi anh có dùng khoá để khoá bánh xe lại. Đến khoảng 00 giờ ngày 02/2/2024 ông T4 gọi điện cho anh thông báo chiếc xe không còn trong sân nhà ông T4, sau đó anh đến Cơ quan Công an thành phố C để trình báo. Thực tế anh không kinh doanh dịch vụ cầm đồ, do bị cáo nhiều lần vay tiền mà chưa trả được nên anh đã cầm cố chiếc xe ô tô để làm tin. Tại đơn xin vắng mặt tại phiên toà anh B có quan điểm: do không có chứng cứ gì chứng minh đưa cho anh Đ số tiền 187.000.000 đồng nên đến nay anh chấp nhận số tiền cầm cố là 70.000.000 đồng, anh đề nghị bị cáo trả lại số tiền này.

Chị Bùi Thị Cẩm T1 là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: sáng ngày 26/01/2024 Hà Minh Đ gọi điện cho chị hỏi thuê xe ô tô, chị đã liên hệ với anh Bùi Đức H để cho Đ thuê xe ô tô. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày anh H điều khiển xe ô tô Accent, màu trắng biển kiểm soát 14A-850.54 đi gặp Đ và giao xe tại khu vực đằng sau Vincom C. Tại đây chị thấy anh HĐ ký hợp đồng thuê xe đến ngày 28/01/2024. Đến hẹn không thấy Đ trả xe, chị liên lạc lại thì Đ gia hạn thuê xe thêm 03 ngày, đến ngày 31/01/2024 vẫn không thấy Đ trả xe, tiền thuê xe và cũng không liên lạc được. Do không thấy Đ trả xe anh H gọi cho chị và nói biết xe ở khu vực bến xe đội 10 nên đã rủ vợ chồng chị đi lấy xe về. Anh Nguyễn Mạnh T3 – chồng chị Bùi Thị Cẩm T1 cũng có lời khai tại hồ sơ vụ án đúng như lời khai của chị T1.

Ông Phạm Văn T4 là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: ông là hàng xóm của anh Vũ Văn B1, ngày 28/01/2024 ông đồng ý cho anh B1 gửi nhờ chiếc xe ô tô ở sân nhà, sau đó Bằng có điều khiển chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent màu trắng đến đỗ trên đất của nhà ông. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/2/2024 vợ chồng ông đi ăn cơm đến khoảng 00 giờ ngày 02/2/2024 ông về nhà thì không thấy chiếc xe nên đã gọi điện thoại báo cho B1 biết, sau đó anh B1 đến cơ quan Công an trình báo.

Anh Vũ Anh L là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: anh có tài khoản mở tại Ngân hàng V nhưng không sử dụng nên đã cho anh B1 mượn để sử dụng từ đầu năm 2023. Chị Ngô Thị Phương T2 cũng có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: khoảng cuối tháng 11/2023 anh Nguyễn Văn B liên lạc nhờ chị chuyển tiền qua ngân hàng cho bạn là Hà Minh Đ vay số tiền 94.000.000 đồng, sau đó anh B đã trả tiền mặt cho chị.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Hà Minh Đ từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (15/4/2024).

Về phần dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 590, 357 Bộ luật Dân sự; Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh B số tiền 70.000.000 đồng, số tiền này gia đình bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự. Giành cho anh B có quyền khởi kiện vụ án dân sự riêng đối với các khoản nợ bị cáo vay trước đó.

Tại phần tranh luận, người bào chữa cho bị cáo - Luật sư Đặng Quốc A, Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q có quan điểm: việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đối với bị cáo Đ là đúng người, đúng tội, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Minh Đ mức án thấp nhất theo quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.

Bị cáo nhất trí với quan điểm của người bào chữa, bị cáo thấy ân hận với hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo tốt, thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà Minh Đ, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai của bị cáo Hà Minh Đ tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại anh Bùi Đức H, lời khai của của những người làm chứng: chị Bùi Thị Cẩm T1, anh Nguyễn Mạnh T3, anh Phạm Văn T4; lời khai của bị cáo cơ bản phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Văn B và còn phù hợp với các chứng cứ sau: Đơn trình báo của anh Nguyễn Văn B, Hợp đồng cho thuê xe tự lái giữa bị cáo và anh Bùi Đức H, Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, các bản ảnh kèm theo biên bản làm việc, kết luận định giá tài sản số 709/KL-HĐĐGTX ngày 20/3/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố C cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Hà Minh Đ đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự, đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện

kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố bị cáo, do vậy cần chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo.

  1. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong nhân dân, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối ký hợp đồng thuê xe ô tô nhãn hiệu Accent, màu trắng biển kiểm soát 14A-850.54, trị giá 277.542.000 của anh Bùi Đức H mang đi cầm cố cho anh Nguyễn Văn B lấy 70.000.000 đồng để ăn tiêu và trả nợ. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
  2. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Đánh bạc” được hưởng án treo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà vẫn tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo thiếu ý thức rèn luyện bản thân. Hội đồng xét xử có xem xét, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã động viên gia đình trả đủ tiền thuê xe ô tô cho bị hại và tự nguyện nộp số tiền 70.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đối với anh Nguyễn Văn B. Tại đơn xin xử án vắng mặt bị hại cũng đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, vợ mới sinh con nhỏ không có việc làm nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo. Nhưng dù xem xét đến đâu cũng cần bắt phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
  3. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  4. Về trách nhiệm dân sự: trong vụ án này, người bị hại đã được nhận lại xe và được trả đủ tiền thuê xe, đến nay không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh Nguyễn Văn B, xét thấy các giao dịch vay tiền của bị cáo và anh B kể từ cuối tháng 11/2023 đến trước ngày bị cáo cầm cố xe ô tô là giao dịch dân sự riêng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên dành quyền khởi kiện vụ án dân sự cho anh B. Hội đồng xét xử xem xét phần thiệt hại liên quan đến việc bị cáo cầm cố xe ô tô của anh B vào ngày 27/01/2024, tại đơn xin xử án vắng mặt anh B có quan điểm chấp nhận việc thoả thuận với bị cáo cầm cố xe ô tô để vay số tiền 70.000.000 đồng, quan điểm này phù hợp với lời khai của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp

nhận buộc bị cáo phải trả cho anh B số tiền 70.000.000 đồng, gia đình bị cáo đã nộp đủ số tiền này tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

  1. Về xử lý vật chứng: chiếc xe ô tô nhãn hiệu Accent, màu trắng biển kiểm soát 14A-850.54 bị hại đã được nhận lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Đối với hành vi của anh Bùi Quang H1 dùng kìm cắt khóa để lấy xe thuộc sở hữu của mình tại nhà ông Phạm Văn T4, không cấu thành tội phạm, nên không đề cập xử lý.

- Việc anh Nguyễn Văn B nhận cầm cố xe ô tô biển kiểm soát 14A-850.54 nhưng không có giấy uỷ quyền của chủ sở hữu xe, Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt hành chính.

  1. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  2. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: bị cáo Hà Minh Đ phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt: Hà Minh Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2024.

Căn cứ: Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 587, 590, 357 Bộ luật Dân sự 2015;

  • Buộc bị cáo Hà Minh Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn B số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng), gia đình bị cáo Đ đã nộp đủ số tiền này tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả (theo biên lai thu tiền số: 0001342 ngày 23/9/2024).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  • Buộc bị cáo Hà Minh Đ phải nộp: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh QN;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Cẩm Phả
  • - Công an TP Cẩm Phả, CQ THA hình sự;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP Cẩm Phả;
  • - Chi cục thi hành án dân sự TP. Cẩm Phả;
  • - Bị cáo, bị hại, người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - Người bào chữa của bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Thị Quýnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 119/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: bị cáo Hà Minh Đ phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Xử phạt: Hà Minh Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger