Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2023/DS-ST

Ngày 30-11-2023

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Trọng Tuấn
Bà Nguyễn Thị Hồng Thuý

- Thư ký phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2023/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 160/2023/QĐST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T (Tiếu), sinh năm 1949; nơi ĐKHKTT: SỐ F P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số B, tầng A Khu E, đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị T: Ông Bùi Quốc T1 – Luật sư Công ty L3 và Đồng nghiệp thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; vắng mặt. Tại phiên toà ngày 30/11/2023 nguyên đơn từ chối tiếp tục mời Luật sư Bùi Quốc T1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T (tức H), sinh năm 1955; nơi cư trú: Số C ngách B, đường P, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt;
  2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957; nơi cư trú: Số A đường T, phường T, thị xã P, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt);
  3. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số G đường L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt);
  4. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số A đường T, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt;
  5. Chị Nguyễn Thùy L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt);
  6. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Khu C, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
  7. Anh Nguyễn Hùng C, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt;
  8. Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng, địa chỉ trụ sở: Số H M, thị trấn N, huyện K, Hải Phòng;

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn T2 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện nộp ngày 13 tháng 4 năm 2022; bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị T (Tiếu); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị T (tức H), bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị S thống nhất trình bày:

Bố mẹ đẻ của bà T (T) là cụ Nguyễn Văn N2 (chết năm 1978) và cụ Nguyễn Thị H1 (chết năm 2019). Cụ N2 và cụ H1 sinh được 07 người con chung là bà Nguyễn Thị T (T), ông Nguyễn Văn C1 (chết năm 1993), bà Nguyễn Thị T (tức Hợp, chết năm 1996, không có chồng con), bà Nguyễn Thị T (tức H), bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị S.

Ông C1 có vợ là bà Nguyễn Thị K. Ông C1, bà K sinh được 03 người con chung là chị Nguyễn Thùy L, chị Nguyễn Thị N1 và anh Nguyễn Hùng C.

Khi còn sống, các cụ tạo dựng được khối tài sản chung là diện tích đất 518m², thửa số 1093, tờ bản đồ số 02, trong đó diện tích đất ở là 300m², diện tích đất vườn tạp là 218m²; tài sản trên đất là nhà thờ ba gian; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Ngôi nhà thờ ba gian bằng khung gỗ Sến, tường đất, mái lợp rạ có từ thời bà nội của nguyên đơn. Khi bố mẹ của nguyên đơn sử dụng ngôi nhà có sửa chữa một lần. Cụ N2 có cơi nới thêm một gian nữa thành 04 gian, xây hai đầu hồi và

2

bức tường đằng trước, còn bức tường đằng sau vẫn đắp đất. Sau này các đồng thừa kế có sửa lại, bỏ một gian cơi nới thêm, giữ lại khung gỗ 03 gian như cũ, xây tường bằng gạch cả ngôi nhà, mái ngói như hiện tại. Tiền đầu tư vào việc sửa chữa ngôi nhà, các đồng thừa kế người góp công, người góp tiền, trong đó ông Đ là người đóng góp nhiều nhất. Hiện tại trên đất còn có 01 ngôi nhà hai gian tường gạch, mái bằng; bể nước, khu bếp, khu vệ sinh, khu chuồng trại chăn nuôi là do mẹ con bà K xây dựng. Các cụ chết không để lại di chúc và khi còn sống chưa tặng cho ai tài sản của các cụ.

Toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất hiện do bà K quản lý, sử dụng. Ngày 09/11/2021 (tức ngày 05/10/2021 âm lịch) là ngày giỗ của bà nội nguyên đơn, nguyên đơn hỏi bà K về giấy tờ thửa đất trên thì bà K cho biết đã được Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G361539, số vào sổ cấp 00011QSDĐ/KT-16-Q1 ngày 27/11/2000 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị K và có đưa cho nguyên đơn xem.

Việc bà K tự ý xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất là di sản của bố mẹ nguyên đơn để lại mà không được sự đồng ý của các đồng thừa kế khác là trái pháp luật dẫn đến tranh chấp giữa các bên.

Ngày 19/12/2021, gia đình nguyên đơn tiến hành họp gia đình nhưng không có kết quả.

Ngày 18/11/2021, nguyên đơn có đơn gửi Ủy ban nhân dân huyện K; Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh huyện K; Ủy ban nhân dân xã T đề nghị thu hồi huỷ bỏ giấy chứng nhận đã cấp nêu trên. Ngày 24/12/2021, Ủy ban xã T tiến hành tổ chức hoà giải tranh chấp giữa các bên theo đơn kiến nghị của nguyên đơn nhưng không có kết quả.

Do vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đồng thừa kế của cụ N2 và cụ H1, nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết: Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G361539, số vào sổ cấp 00011QSDĐ/KT-16-Q1 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 27/11/2000 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị K được quyền sử dụng thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Chia di sản thừa kế là diện tích đất 518m² (trong đó 300m² diện tích đất ở, 218m² diện tích đất vườn tạp) cho các đồng thừa kế của cụ N2 và cụ H1 theo quy định của pháp luật. Bà T (T3), bà T (H), bà S thống nhất yêu cầu chia di sản thừa kế theo diện tích đất hiện trạng là 508,7m²; ½ di sản thừa kế của cụ N2 đã hết thời hiệu chia di sản thừa kế thì đồng ý để làm nơi thờ cúng, ½ diện tích đất còn lại chia đều cho các đồng thừa kế. Bà T (T3), bà T (H), bà S được khoảng 109m², ba bà thống nhất nhận đất chung.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 24/02/2023, ngày 24/7/2023, ngày 13/10/2023 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – bà Nguyễn Thị K trình bày:

3

Bà K là vợ của ông Nguyễn Văn C1 (chết năm 1993). Ông C1 và bà K sinh được 03 người con chung là Nguyễn Thùy L, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Hùng C. Bà K, ông C1 không có con nuôi, con riêng. Bà K xác nhận mối quan hệ huyết thống trong gia đình ông C1 đúng như lời trình bày của nguyên đơn. Cụ N2 và cụ H1 không có con nuôi, con riêng. Năm 1981, bà K lấy ông C1 và sinh sống trên thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02 này cùng cụ H1. Nguồn gốc thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02 là của cố Vũ Thị B là mẹ đẻ của cụ N2 (bố chồng của bà K). Cố Bế được bố mẹ đẻ của cố cho lại thửa đất. Sau này cố Bế cho lại cụ N2 thửa đất (cụ N2 là con trai trưởng của cố) để ở và thờ cúng tổ tiên. Sổ hộ khẩu của gia đình bà K lập năm 1998 bao gồm chủ hộ là bà Nguyễn Thị K. Các thành viên gồm ba người con là chị L, chị N1 và anh C. Đến năm 2017 nhập khẩu thêm chị Lương Thị Thu H2 là vợ của anh C và con của anh C, chị H2 là cháu Nguyễn Nhật M. Tuy nhiên, anh C và chị H2 đã ly hôn từ tháng 8 năm 2023. Năm 2000, Ủy ban nhân dân huyện K đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02 đứng tên hộ bà K, lúc đó Uỷ ban xã làm thí điểm nên các anh chị em trong gia đình không ai biết, chỉ có ông chú là ông L1 biết và đồng ý. Trên thửa đất có ngôi nhà ba gian cấp 4 mái ngói là nhà cũ của các cụ để lại, đã được các đồng thừa kế sửa chữa vào năm 2012 và các đồng thừa kế đều nhất trí để làm nơi thờ cúng chung. Bà K không phản đối việc để lại ngôi nhà này để làm nơi thờ cúng chung. Còn ngôi nhà cấp 4 mái ngói đỏ do bà K xây mới vào năm 2006. Vợ chồng anh C không đóng góp gì vào tài sản xây dựng trên đất. Hiện tại chỉ có bà K và con trai là anh C sinh sống trên thửa đất. Nay nguyên đơn khởi kiện chia di sản thừa kế thì bà K có quan điểm: Đây là thửa đất của cha ông để lại nên bà K và các con bà K có quản lý, sử dụng cũng chỉ là để làm nơi thờ cúng, hương khói theo truyền thống cũng như cụ N2 là con trưởng quản lý, sử dụng là để thờ cúng. Bà K là con dâu trưởng nên đảm nhận nhiệm vụ này. Bà K không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, muốn giữ lại nhà thờ. Hiện tại, các con của bà K là chị L, chị N1 và anh C đều bận làm ăn nên không đến Toà được. Tuy nhiên, bà K xác nhận quan điểm của các con chung của bà K, ông C1 đều thống nhất với quan điểm của bà.

Tại bản Biên bản lấy lời khai ngày 02/12/2022, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà N xác nhận mối quan hệ huyết thống trong gia đình đúng như nguyên đơn trình bày. Về nguồn gốc thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02 là của cha ông để lại cho cụ Nguyễn Văn N2 và cụ Nguyễn Thị H1 trông coi, gìn giữ để cúng giỗ gia tiên. Cụ N2 khi còn sống không chuyển nhượng, tặng cho hoặc đổi đất cho ai. Cụ N2, cụ H1 chết không để lại di chúc. Thửa đất này hiện đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho bà K là con dâu trưởng của cụ N2, cụ H1, hiện bà K đang sinh sống trên thửa đất này. Nay nguyên đơn khởi kiện chia di sản thừa kế và huỷ giấy chứng nhận đã cấp cho hộ bà K, quan điểm của bà N không đồng ý chia đất mà để làm nơi thờ cúng. Giấy tờ đứng tên bà K thì vẫn giữ nguyên nhưng bà K không được bán, tặng cho ai; thửa đất này chỉ để làm nơi thờ cúng chung của gia đình. Đề nghị

4

Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Do tuổi cao, sức khoẻ yếu bà N không thể có mặt tại Toà nên đề nghị Toà án xét xử vụ án vắng mặt bà N.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/11/2023, Biên bản hoà giải ngày 21/6/2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ông Đ nhất trí với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống trong gia đình và nguồn gốc đất như nguyên đơn trình bày. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Đ không đồng ý. Trường hợp nếu phải phân chia di sản thừa kế của cụ N2 và cụ H1 thì ông Đ từ chối nhận di sản thừa kế, phần di sản ông Đ được hưởng một phần diện tích đất để làm nơi thờ cúng và một phần nhường lại cho bà K.

Tại bản tự khai, văn bản ngày 13/9/2023 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – chị Nguyễn Thùy L, anh Nguyễn Hùng C thống nhất trình bày:

Chị L và anh C là con đẻ của ông C1 và bà K. Ông C1, bà K sinh được ba người con đúng như lời trình bày của bà K. Trong trường hợp chị L, anh C được hưởng di sản thừa kế của ông bà nội theo diện thừa kế thế vị thì chị L, anh C đồng ý nhường phần được hưởng cho mẹ đẻ là bà K và thống nhất với lời trình bày và quan điểm của bà K. Chị L đề nghị Toà án xét xử vụ án vắng mặt chị L.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng, chị Nguyễn Thị N1 không có văn bản nêu quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị chia di sản thừa kế diện tích đất, không yêu cầu chia tài sản trên đất.

Tại phiên toà sơ thẩm, các đương sự có mặt bao gồm bà T (Tiếu), bà T (H) và bà S, bà K, anh C cùng thống nhất thoả thuận đề nghị Toà án phân chia di sản thừa kế diện tích đất hiện trạng 508,7m², thửa số 1093, tờ bản đồ số 02 có nguồn gốc của cụ N2 và cụ H1. Bà T (T3), bà T (H), bà S đồng ý nhận chung di sản thừa kế diện tích đất là 110m²; bà K, anh C xác nhận các con của bà K đồng ý nhường lại phần di sản thừa kế cho bà K và đồng ý nhận phần di sản là diện tích đất 172,6m². Phần diện tích đất còn lại 226,1m², trên diện tích đất này có ngôi nhà cấp 4 ba gian để làm nơi thờ cúng chung. Bà T (T3), bà T (H) và bà S, ông Đ đều đóng góp một phần diện tích đất họ được hưởng để làm nơi thờ cúng chung. Bà N đồng ý đóng góp toàn bộ phần di sản thừa kế được hưởng vào phần diện tích làm nơi thờ cúng. Diện tích đất 226,1m² đứng tên chung các đồng thừa kế bao gồm bà T (Tiếu), bà T (H), bà S, ông Đ, bà N và bà K trên giấy chứng nhận và mục đích là để làm nơi thờ cúng chung. Bà K là người quản lý, trông coi nhà thờ, diện tích đất 226,1m² làm nơi thờ cúng. Tuy nhiên, trên diện tích đất 226,1m², ngoài ngôi nhà thờ 03 gian, còn có ngôi nhà cấp 4 diện tích 23,5m², bếp, khu vệ sinh, bể nước là do bà K xây dựng, bà K tiếp tục được

5

sử dụng. Các đồng thừa kế khác cũng được sử dụng khu phụ, bếp, khu vệ sinh, bể nước, nhà kho nhưng không được làm ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày của gia đình bà K (theo Biên bản làm việc ngày 24/11/2023). Bà T (T3), bà T (H), bà S có trách nhiệm xây ranh giới giữa phần diện tích đất phân chia cho bà T (Tiếu), bà T (H), bà S với phần diện tích đất phân chia cho bà K.

Đại diện Viện Kiểm sát thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự và người tham gia tố tụng khác cơ bản đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Tại phiên toà, các đương sự có mặt thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, phù hợp với quan điểm của các đương sự có mặt. Việc các đương sự thoả thuận được với nhau là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử, xử công nhận sự thoả thuận của họ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại khoản 5 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Nguyễn Văn N2 chết năm 1978; cụ Nguyễn Thị H1 chết năm 2019. Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện ngày 13/4/2022. Tuy nhiên, trên thửa đất 1093, tờ bản đồ số 02 còn di sản thừa kế là nhà ở nên thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ N2 và cụ H1 còn trong thời hạn luật định, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật - Điều 623 của Bộ luật Dân sự.

[3] Về quan hệ huyết thống: Các đương sự và Uỷ ban xã T đều thống nhất xác nhận: Cụ N2 và cụ H1 sinh được 07 người con chung là bà Nguyễn Thị T (T), ông Nguyễn Văn C1 (chết năm 1993), bà Nguyễn Thị T (tức Hợp, chết năm 1996, không có chồng con), bà Nguyễn Thị T (tức H), bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị S. Ngoài ra, cụ N2 và cụ H1 không có con nuôi và con riêng. Ông C1 có vợ là bà Nguyễn Thị K. Ông C1, bà K sinh được 03 người con chung là chị Nguyễn Thùy L, chị Nguyễn Thị N1 và anh Nguyễn Hùng C. Các cụ chết không để lại di chúc và khi còn sống chưa tặng cho ai tài sản của các cụ.

[4] Chị Lương Thị Thu H2 là vợ của anh Nguyễn Hùng C. Tuy nhiên, do mâu thuẫn vợ chồng nên hai bên đã làm thủ tục ly hôn và được Toà án nhân dân quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng ra Quyết định công nhận sự thoả thuận của các

6

đương sự về việc ly hôn số 33/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18/8/2023. Chị H2, anh C đều xác nhận không có đóng góp gì vào tài sản có trên thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02 nên Toà án không xác định chị H2 tham gia tố tụng trong vụ án này.

[5] Về nguồn gốc, diễn biến quá trình sử dụng thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng:

[5.1] Căn cứ sổ đăng ký thống kê đất thổ cư, ao, 5% lập ngày 01/4/1987 theo Quyết định số 506/UBND huyện K thì: Thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02 là đất thổ cư cũ sử dụng trước ngày 18/11/1980 đứng tên trong sổ, số thứ tự 33 bà Nguyễn Thị H1, diện tích đất ở là 0.11 thước (264m²), số thứ tự 34 bà Nguyễn Thị K, diện tích đất ở là 0.11 thước (264m²). Theo tờ bản đồ ghi thửa số 1093, diện tích là 1.07 thước (528m²). Năm 2000, theo kế hoạch của Ủy ban nhân dân huyện K về triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân, hộ bà Nguyễn Thị K có được Uỷ ban xã thiết lập hồ sơ và đề nghị Uỷ ban huyện cấp giấy đối với thửa đất trên. Thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02 cấp cho hộ bà Nguyễn Thị K bao gồm các thành viên có tên trong sổ hộ khẩu tại thời điểm cấp giấy. Năm 2021, thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu tại xã T, hộ bà K đã hiến đất để làm đường giao thông nông thôn mới nên kích thước thửa đất có sự thay đổi so với diện tích đất tại giấy chứng nhận đã cấp. Do thửa đất có tranh chấp nên gia đình chưa thực hiện điều chỉnh phần diện tích đã hiến. Về căn cứ pháp lý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Uỷ ban xã lập hồ sơ cấp căn cứ vào Sổ mục kê lưu trữ tại Uỷ ban xã T lập ngày 01/4/1987 và bản đồ giải thửa, thuộc tờ bản đồ số 02 thôn T, xã T, huyện K.

[5.2] Ngoài ra, Ủy ban xã T còn cho biết: Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1923, ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1932 (chết tháng 5/2023), ông Nguyễn Văn T4 có đơn gửi Toà án ngày 05/5/2022 trình bày thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02 có nguồn gốc là của bà nội của bố mẹ các ông bà để lại chưa chia di sản là không có cơ sở pháp lý vì theo hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương không thể hiện điều này. Theo hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương thì thửa đất số 1093 đứng tên cụ H1 và bà K. Sổ đăng ký thống kê đất thổ cư, ao, 5% lập ngày 01/4/1987 là quyển sổ gốc của Uỷ ban xã. Lý do vì sao bà K đứng tên cùng cụ H1 tại thửa đất số 1093 thì Uỷ ban xã không nắm được. Tuy nhiên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 00011QSD Đ/KT-16-Q1 ngày 27/11/2000 đứng tên chủ sử dụng đất là hộ bà Nguyễn Thị K có nghĩa là bao gồm những người có tên tại Sổ hộ khẩu vào thời điểm cấp giấy. Tại thời điểm cấp giấy cụ H1 vẫn còn sống. Vợ chồng ông C1, bà K sống cùng với cụ H1 trên thửa đất. Nay nguyên đơn khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ N2, cụ H1 thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, cần xem xét đến quyền lợi của các con cụ N2 và cụ H1.

[6] Chi nhánh Văn phòng Đ1 – Chi nhánh huyện K cung cấp cho Toà án: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà K bao gồm các tài liệu: Đơn xin

7

đăng ký quyền sử dụng đất ngày 15/10/2000 của bà K với tư cách là chủ hộ gia đình. Theo đơn kê khai đăng ký quyền sử dụng thửa đất: Về nguồn gốc sử dụng đất ghi: Đất thổ cư cũ cha ông để lại: Biên bản xác định ranh giới mốc giới thửa đất ngày 15/11/2000; Trích đo diện tích đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/11/2000.

[7] Bà Nguyễn Thị K nộp Sổ hộ khẩu gia đình lập ngày 14/10/1998. Tại thời điểm năm 1998: Chủ hộ: Bà Nguyễn Thị K. Thành viên: Mẹ chồng: Cụ Nguyễn Thị H1, các con của bà K: chị Nguyễn Thùy L (chuyển khẩu đi ngày 15/12/2011); chị Nguyễn Thị N1 (chuyển khẩu đi ngày 20/2/2009), anh Nguyễn Hùng C.

[8] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

[8.1] Diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 518m² (trong đó diện tích đất ở 300m²; diện tích đất vườn tạp: 208,7m²); diện tích đất hiện trạng: 508,7m². Giá đất theo giá thị trường: Giá trị đất ở: 2.760.000.000 đồng; giá trị đất vườn tạp: 16.696.000 đồng; tổng cộng: 2.776.696.000 đồng.

[8.2] Tài sản trên đất: 01 nhà cấp 4, 03 gian: Diện tích xây dựng: 41,2m², tường xây gạch chỉ 220, mái ngói, nền lát gạch men, sửa chữa năm 2012, trị giá: 79.039.000 đồng. Nhà dưới, diện tích xây dựng: 23,5m², tường xây gạch chỉ 220, mái tôn mạ màu, ốp trần nhựa, cao 3,3m, xây dựng năm 2006. 01 lán tôn, diện tích 40,2m², xà gồ bằng sắt hộp, lợp tôn lạnh. 01 nhà vệ sinh, diện tích 5,3m². 01 bếp, diện tích 7,2m², tường xây gạch chỉ, mái tôn mạ màu. 01 bể nước 1,55m³. 01 nhà kho: 20m², mái tôn prôximăng, tường xây gạch chỉ. Cây cối: 03 cây Mít; 01 cây Na; 08 cây Cau có quả. Tổng giá trị tài sản trên đất là: 175.156.000 đồng; trong đó trị giá ngôi nhà ba gian là: 79.039.000 đồng.

[9] Từ những nội dung trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy rằng: Căn cứ hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương, cũng như lời trình bày của các đương sự thì nguồn gốc thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02 là của bố mẹ cụ N2 để lại cho vợ chồng cụ N2, cụ H1. Vì sao bà K đứng tên ½ diện tích của thửa đất tại sổ đăng ký thống kê đất thổ cư, ao, 5% lập ngày 01/4/1987 theo Quyết định số 506/UBND huyện K thì bà K không chứng minh được là đã được cụ N2, cụ H1 cho; còn Uỷ ban xã, cơ quan quản lý đất đai ở địa phương không nắm được. Tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho hộ bà K năm 2000 thì bà K kê khai là đất của cha ông để lại. Bà K cũng thừa nhận khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận chưa hỏi ý kiến các con của cụ N2, cụ H1. Mặt khác, thửa đất đăng ký tên cả cụ H1 và bà K nhưng làm thủ tục cấp giấy chứng nhận cho hộ bà K. Nguồn gốc thửa đất là của cụ N2 và cụ H1 nhưng Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà K mà chưa được sự đồng ý của các đồng thừa kế là không đúng bản chất sự việc và không đúng quy định của pháp luật. Cụ N2, cụ H1 không để lại di chúc nên cần xác định thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02 là di sản thừa kế của cụ N2 và cụ H1 để lại. Tại phiên toà, các đương sự có mặt

8

thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; nội dung thoả thuận của các đương sự có mặt thống nhất với quan điểm của hai đồng thừa kế vắng mặt là ông Đ và bà N. Cụ thể: Bà T (Tiếu), bà T (H), bà S đồng ý nhận chung di sản thừa kế diện tích đất là 110m²; bà K, anh C xác nhận các con của bà K đồng ý nhường lại phần di sản thừa kế cho bà K và đồng ý nhận phần di sản là diện tích đất 172,6m². Phần diện tích đất còn lại 226,1m², trên diện tích đất này có ngôi nhà cấp 4, ba gian, các đương sự thống nhất để làm nơi thờ cúng chung và đứng tên chung các đồng thừa kế bao gồm bà T (Tiếu), bà T (H), bà S, ông Đ, bà N và bà K trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mục đích là để làm nơi thờ cúng chung. Bà K là người quản lý, trông coi nhà thờ và diện tích đất 226,1m². Gia đình bà K tiếp tục được sử dụng ngôi nhà cấp 4 diện tích 23,5m², bếp, khu vệ sinh, bể nước, nhà kho hiện nằm trên diện tích đất 226,1m² cho đến khi xây dựng nhà ở và các công trình xây dựng khác trên phần diện tích đất được phân chia. Các đồng thừa kế khác cũng được sử dụng khu phụ, bếp, khu vệ sinh, bể nước, nhà kho nhưng không được làm ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày của gia đình bà K. Bà T (T3), bà T (H), bà S có trách nhiệm xây ranh giới phân chia giữa phần diện tích đất phân chia cho bà T (Tiếu), bà T (H), bà S với diện tích đất phân chia cho bà K và các con chung của bà K, ông C1 (đối với việc sử dụng các công trình trên diện tích đất 226,1m² các bên thống nhất tại Biên bản làm việc ngày 24/11/2023). Như vậy, với thoả thuận trên của các đương sự thì bà N là người đóng góp toàn bộ phần di sản thừa kế được hưởng vào diện tích đất để làm nơi thờ cúng. Bà T (T3), bà T (H), bà S đóng góp diện tích đất 108m². Phần di sản thửa kế ông Đ được hưởng, ông Đ đóng góp vào diện tích thờ cúng 45,41m², phần diện tích đất ông Đ cho bà K là 27,26m². Do sự thoả thuận của các đương sự là tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật nên cần xử công nhận sự thoả thuận của các đồng thừa kế về việc phân chia di sản thừa kế của cụ N2, cụ H1. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G361539, số vào sổ cấp 00011QSDĐ/KT-16-Q1 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 27/11/2000 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị K được quyền sử dụng thưả đất số thửa số 1093, tờ bản đồ số 02; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng – các Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652 của Bộ luật Dân sự; các Điều 49, Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003; Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

[10.1] Bà T (Tiếu), bà T (H), bà N, ông Đ, bà S, chị L, chị N1 và anh C đều phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do bà T (T3), bà T (H), bà N, ông Đ đều là người cao tuổi, có đơn đề nghị nên miễn án phí cho họ - khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Điều 2 của Luật Người cao tuổi.

[10.2] Các đương sự khác trong vụ án không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

9

[11] Về chi phí định giá tài sản, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nguyên đơn tự nguyện chịu, đã nộp đủ nên không đặt vấn đề giải quyết - Điều 164, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các các Điều các Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Điều 49, Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003;

Căn cứ vào Điều 34 của Bộ T5; Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, Điều 164, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 7 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 2 của Luật Người cao tuổi.

Xử: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

  1. 1.1. Bà Nguyễn Thị T (T3), bà Nguyễn Thị T (H), bà Nguyễn Thị S được quyền sử dụng diện tích đất là 110m², tại thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, bao gồm các mốc: 4,5,6,7,8,9,10,4.

  2. 1.2. Bà Nguyễn Thị T (T3), bà Nguyễn Thị T(H), bà Nguyễn Thị S có nghĩa vụ xây ranh giới phân chia giữa phần diện tích đã phân chia cho bà Nguyễn Thị T (Tiếu), Bà Nguyễn Thị T (H), bà Nguyễn Thị S và phần diện tích đã phân chia cho bà Nguyễn Thị K.

  3. 2. Bà Nguyễn Thị K được quyền sử dụng diện tích đất là 172,6m² tại thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, bao gồm các mốc: 3,4,10,11,12,13,3.

  4. 3.1. Bà Nguyễn Thị T (Tiếu), bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị T (tức H), bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị S được quyền sử dụng diện tích đất 226,1m², bao gồm các mốc: 1,2,3,13,14,15,1; mục đích sử dụng là nơi thờ cúng và tài sản trên diện tích đất là ngôi nhà thờ ba gian cấp 4 diện tích 41,2m², cột kèo gỗ, tường gạch, mái ngói đỏ.

    (Diện tích đất phân chia cho các đương sự có sơ đồ kèm theo)

  5. 3.2. Gia đình bà Nguyễn Thị K có trách nhiệm quản lý, trông coi diện tích đất 226,1m² làm nơi thờ cúng, trên đất có ngôi nhà cấp 4, ba gian, cột kèo gỗ, tường gạch, mái ngói đỏ, diện tích xây dựng: 41,20m².

10

  1. Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G361539, số vào sổ cấp 00011QSDĐ/KT-16-Q1 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 27/11/2000 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị K được quyền sử dụng thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 02; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng.

  2. Các đương sự được phân chia đất nêu trên có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  3. Đối với ngôi nhà cấp 4, diện tích 23,5m² và các công trình xây dựng khác do bà Nguyễn Thị K xây dựng, gia đình bà Nguyễn Thị K được tiếp tục sử dụng theo Biên bản làm việc ngày 24/11/2023.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    1. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị T (Tiếu), bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị T (tức H), bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn Đ.
    2. Bà Nguyễn Thị S phải chịu 19.833.150 đồng (làm tròn 19.833.000 đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    3. Chị Nguyễn Thùy L, chị Nguyễn Thị N1 và anh Nguyễn Hùng C, mỗi người phải chịu 6.611.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    4. Các đương sự khác trong vụ án không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về chi phí định giá tài sản, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nguyên đơn - bà Nguyễn Thị T (Tiếu) tự nguyện chịu và đã nộp đủ nên không đặt vấn đề giải quyết.

Trong thời hạn 15 ngày (Mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt đều có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Trong thời hạn 15 ngày (Mười lăm ngày), kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết các đương sự vắng mặt đều có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

11

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Minh Phương

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2023/DS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 119/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản và Huỷ GCNQSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger