Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH SƠN

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 119/2024/HS-ST

Ngày 20/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Kiều Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu.

Ông Nguyễn Thanh Thương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ánh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 186/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 178/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với:

1. Bị cáo: Trương Văn Q, sinh ngày 24 tháng 10 năm 1997 tại tỉnh Quảng Ngãi; đăng ký cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số [...], cấp ngày 26/5/2023; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Trương Văn N, sinh năm 1972 và con bà Đỗ Thị B, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trương Thị Mỹ V, sinh năm 1995; cư trú tại: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8 năm 2023, Trương Văn Q sử dụng điện thoại di động truy cập vào mạng xã hội Facebook tìm kiếm các trang làm giả Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 (sau đây viết tắt là GPLX). Sau đó, Q nhắn tin với một tài khoản mạng xã hội Facebook qua ứng dụng Messenger (hiện không xác định được nhân thân, lai lịch) để trao đổi, đặt làm giả một GPLX với giá là 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng). Q đã cung cấp thông tin họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ cư trú, ảnh thẻ của mình cho chủ tài khoản mạng xã hội Facebook trên. Đồng thời, Q và chủ tài khoản mạng xã hội Facebook trên thỏa thuận sau khi làm xong sẽ giao về nơi làm việc cho Q tại số D T, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Q mới thanh toán tiền. Khoảng 07 ngày sau, một người đàn ông giao hàng (không xác định được nhân thân, lai lịch) mang GPLX mô tô hạng A1 đến nơi làm việc của Q để giao, Q nhận GPLX rồi thanh toán số tiền 700.000 đồng cho người này.

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1-824.49 tham gia giao thông, khi đến tuyến đường thuộc xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi thì bị Đội Cảnh sát giao thông - Công an huyện B yêu cầu dừng phương tiện, xuất trình GPLX để kiểm tra hành chính, kiểm tra nồng độ cồn. Q dừng phương tiện và sử dụng GPLX hạng A1 (số E) mua trên mạng xã hội cung cấp cho lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra. Quá trình kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông - Công an huyện B tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với Q về hành vi: “Điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn nhưng vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở” (nồng độ cồn đo được là 0,184 miligam/1 lít khí thở) và lập biên bản tạm giữ đối với GPLX hạng A1 số [...] và xe mô tô biển kiểm soát 76C1-824.49.

Quá trình kiểm tra hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính phát hiện Trương Văn Q có dấu hiệu sử dụng GPLX giả nên ngày 19/01/2024, Đội Cảnh sát giao thông chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số: 201/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE” hạng A1, số [...], mang tên Trương Văn Q, sinh ngày 24/10/1997; nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, ghi do Sở G cấp ngày 10/08/2023 (ký hiệu A) gửi đến giám định là giấy giả.

Tại Bản Cáo trạng số 117/CT-VKS-BS ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn truy tố Trương Văn Q về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Văn Q về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

- Về vật chứng vụ án:

  • + Đối với 01 GPLX hạng A1, số [...] mang tên Trương Văn Q do Sở Giao thông Vận tải tỉnh G cấp ngày 10/8/2023: Đây là giấy phép lái xe mô tô giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã niêm phong và đưa vào hồ sơ vụ án.
  • + Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 76C1-824.49 mà Trương Văn Q sử dụng khi tham gia giao thông: Qua điều tra xác định xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của chị Trương Thị Mỹ V (chị ruột của Q), Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.
  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động mà Trương Văn Q khai dùng để truy cập và giao dịch để mua giấy phép lái xe mô tô giả: Hiện nay điện thoại trên đã bị hư hỏng, Q đã vứt bỏ nên cơ quan CSĐT Công an huyện không thu giữ được.

Do đó, về vật chứng trong vụ án đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

- Về một số vấn đề, đối tượng có liên quan khác:

  • + Đối với hành vi vi phạm hành chính (vi phạm nồng độ cồn) vào ngày 11/01/2024, Trương Văn Q đã bị Công an huyện B xử phạt với số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu, năm trăm nghìn đồng), bị cáo đã chấp hành xong.
  • + Đối với người làm giả giấy phép lái xe mô tô hạng A1 cho bị cáo trên mạng Facebook: Bị cáo Q khai không nhớ tên tài khoản mạng xã hội Facebook của mình và tên tài khoản của đối tượng mà bị cáo đã liên hệ để đặt làm giả GPLX, không có thông tin về nhân thân, lai lịch của người làm giả giấy phép lái xe nên không có căn cứ xác minh, làm rõ.
  • + Đối với đối tượng giao hàng: Trương Văn Q không nhớ đặc điểm, tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại nên không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết đối với các vấn đề nêu trên.

Ý kiến bào chữa, tranh luận của bị cáo: Bị cáo không có tranh luận về điều luật áp dụng, tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:
    1. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thu thập và người tham gia tố tụng khác cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng Hình sự.
    2. Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
    3. Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng hồ sơ vụ án cũng đã có lời khai của họ, xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
  2. Về nội dung:
    1. Tại phiên tòa, bị cáo Q khai nhận: Bị cáo chưa có GPLX hạng A1 nên đã vào mạng xã hội Facebook để tìm kiếm các trang web làm giả GPLX hạng A1, sau đó bị cáo nhắn tin với một tài khoản Facebook qua ứng dụng Messenger để trao đổi về việc đặt làm giả GPLX với giá 700.000 đồng, bị cáo cung cấp thông tin cá nhân, gửi ảnh thẻ của mình cho đối tượng làm giả, thỏa thuận về địa điểm giao nhận, hình thức thanh toán. Khoảng 07 ngày sau, bị cáo Q nhận được GPLX mô tô giả hạng A1 số [...] mang tên Trương Văn Q do Sở G cấp ngày 10/8/2023, bị cáo thanh toán tiền cho người giao hàng. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1-824.49 lưu thông trên tuyến đường thuộc xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi thì bị Cảnh sát giao thông - Công an huyện B yêu cầu dừng xe, kiểm tra phát hiện bị cáo vi phạm nồng độ cồn. Khi lực lượng chức năng yêu cầu xuất trình GPLX, bị cáo đã cung cấp giấy phép như trên, qua tra cứu số ghi trên GPLX thì Sở G xác nhận là không cấp Giấy phép lái xe hạng A1, số GPLX: 510234829337 cho Trương Văn Q.
    2. Tại Kết luận giám định số 201/KL-KTHS, ngày 09/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q kết luận: “Giấy phép lái xe hạng A1, số E, mang tên Trương Văn Q, sinh ngày 24/10/1997, nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, ghi do Sở Giao thông Vận tải tỉnh G cấp ngày 10/8/2023 gửi đến giám định là giấy giả”.

      Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có tại hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra thu thập được.

      Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    3. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi sử dụng giấy tờ giả của bị cáo Q là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, điều khiển hành vi, bị cáo nhận thức được việc sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về thủ tục cấp GPLX; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương nhất là tội phạm về xâm phạm trật tự quản lý hành chính và răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
    4. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

      Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

      Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt; bị cáo có khả năng tự cải tạo nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cho bị cáo cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

    5. Về hình phạt bổ sung: Vì bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
    6. Về xử lý vật chứng:
      1. Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Trương Văn Q do Sở Giao thông Vận tải tỉnh G cấp ngày 10/8/2023: Đây là giấy phép lái xe giả có giá trị chứng cứ chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã niêm phong và đưa vào lưu theo hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
      2. Đối với điện thoại di động mà Trương Văn Q sử dụng để truy cập và giao dịch với đối tượng làm giấy phép lái xe giả đã hư hỏng, Q không nhớ vứt bỏ ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
    7. Về những vấn đề có liên quan khác:
      1. Đối với hành vi vi phạm hành chính (vi phạm nồng độ cồn) vào ngày 11/01/2024: Trương Văn Q đã bị Công an huyện B xử phạt số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng), bị cáo đã chấp hành xong Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
      2. Đối với đối tượng làm giả giấy phép lái xe: Bị cáo Q khai không nhớ tên tài khoản mạng xã hội Facebook của mình và tên tài khoản của đối tượng mà bị cáo đã liên hệ để đặt làm giả Giấy phép lái xe, không có thông tin về nhân thân, lai lịch của người làm giả giấy phép lái xe nên không có căn cứ xác minh, làm rõ. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B không có căn cứ xác minh, xử lý nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
      3. Đối với đối tượng giao hàng: Trương Văn Q không nhớ đặc điểm, tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại nên không có căn cứ xác minh, làm rõ nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  3. Xét ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo không có tranh luận gì nên không xét.
  4. Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn: Về áp dụng pháp luật; tội danh; mức hình phạt; hình phạt bổ sung; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mức hình phạt và xử lý vật chứng như trên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  5. Xét lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không trình bày gì nên Hội đồng xét xử không xét.
  6. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Trương Văn Q phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

    Xử phạt bị cáo Trương Văn Q số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trương Văn Q có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 20/8/2024).

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án đối với phần liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi,
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Công an; VKSND huyện Bình Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Sơn
  • - UBND xã Bình Hòa (thay thông báo);
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Kiều Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự (tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 119/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger