Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 119/2024/HS-ST

Ngày: 04-6-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Anh Tuấn

Bà Nguyễn Thị Minh Loan

- Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 t eQuyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Đỗ Công T, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1997; nơi sinh: tỉnh Nam Định; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định.; số căn cước công dân [...]; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Văn T1 và bà Vũ Thị L; gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; hiện tại bị cáo đang chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị H và có 01 con chung; tiền án: Ngày 01-10-2019 bị Toà án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 17-03-2022 bị Toà án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Chấp hành xong hình phạt ngày 26-10-2023; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 10-3-2015 bị Công an phường N, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 22-7-2015 bị Công an phường V, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 07-4-2016 bị Toà án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Bị cáo bị tạm giữ ngày 01-3-2024, chuyển tạm giam ngày 10-3-2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt.
  2. Họ và tên: Phạm Việt T2, sinh ngày 11 tháng 01 năm 1983; nơi sinh: tỉnh Nam Định; nơi thường trú: Số B M, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Số B T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Quang A (đã chết) và bà Trần Thị Kim L1 (đã chết); gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Phạm Thị H1 (đã ly hôn năm 2022) và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14-01-2009, bị Ủy ban nhân dân tỉnh N áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 24 tháng. Bị cáo bị tạm giữ ngày 01-3-2024, chuyển tạm giam ngày 10-3-2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt.

Bị hại:

Công ty cổ phần X; địa chỉ trụ sở: số A N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Đăng K, chức vụ: Giám đốc; người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phan Văn D (theo Giấy uỷ quyền ngày 01-3-2024). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Thị Bích N, sinh năm 1968; Nơi đăng ký thường trú: Số F đường G, phường V, thành phố N. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Anh Đoàn Văn K1, sinh năm 1985; Nơi đăng ký thường trú: số D đường V, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Công TPhạm Việt T2 là bạn xã hội của nhau. Từ ngày 16-02-2024 đến khi bị bắt, T ở nhờ nhà trọ của T2 tại địa chỉ: Số B T - P. C, thành phố N. Quá trình ở nhà Trường, T đi qua khu vực Khu đô thị N, phường C, thành phố N và phát hiện tại công trường đang xây dựng có các loại xe lu, máy xúc, máy trộn bê tông,.... để tại các khu đất trống, không có tường rào bảo vệ, không người trông coi. Do không có công việc ổn định và thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên T nảy sinh ý định trộm cắp mô tơ và bình ắc quy của các xe chuyên dụng nêu trên. Trứ rủ T2 đi trộm cắp tài sản, T2 đồng ý và cùng T chuẩn bị công cụ gồm: 01 kìm cộng lực cán dài khoảng 90cm, 01 mỏ lết, 01 cờ lê, 01 thanh xả cầy bằng thép xoắn dài khoảng 60cm. Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 01-3-2024, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu đỏ đen biển kiểm soát 89D1-008.08 của T2 chở T2 từ nhà trọ của T2 địa chỉ tại số B T, phường C, thành phố N đến bãi xe của công trường. Trứ xuống xe, phân công Trường

2

ở lại cảnh giới còn mình mang theo dụng cụ vào bãi xe tháo 01 mô tơ điện của xe trộn bê tông mang ra chỗ T2 đứng rồi tiếp tục quay lại lần lượt tháo 02 bình ắc quy của xe lu, 02 bình ắc quy của máy xúc mang ra ngoài. T2 đứng giữ xe máy, T bê 02 bình ắc quy đặt lên phần giá đỡ phía sau yên xe và để mô tơ điện lên trên rồi buộc lại, 02 bình ắc quy còn lại để vào phần giữa xe máy rồi mang theo công cụ điều khiển xe chở T2 theo đường củ về phòng trọ cất giấu rồi đi ngủ.

Khoảng 09 giờ cùng ngày, T gọi điện cho ông Bùi Minh N1, sinh năm 1976, trú tại số G Bắc T, phường C, thành phố N thoả thuận bán 01 bình ắc quy với giá 400.000 đồng nhưng thanh toán tiền sau. T2 mang ắc quy đến giao cho ông N1 tại bốt điện đường L, phường C, thành phố N. Khi giao ắc quy, T2 không nói về nguồn gốc của tài sản.

Sau khi phát hiện công trường bị mất trộm tài sản, anh Phan Văn D sinh năm 1982, trú tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định là Chỉ huy trưởng công trình xây dựng cầu qua sông Đào thuộc khu đô thị N, phường C, thành phố N đến Công an phường C, thành phố N trình báo. Ngoài ra anh D còn trình báo: Ngày 16-02-2024 bị mất 04 bình ắc quy của xe lu và máy xúc; ngày 27-02-2024 bị mất 02 bình ắc quy của xe ô tô tải. Toàn bộ số tài sản bị trộm cắp đều là tài sản của Công ty Cổ phần X, địa chỉ trụ sở số A đường N, phường T, thành phố N. Ngày 01-3-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N triệu tập Đỗ Công TPhạm Việt T2 để xác minh làm rõ. Tại Cơ quan điều tra TT2 đã khai nhận hành vi phạm tội ngày 01-3-2024. Trứ giao nộp 03 bình ắc quy chưa tiêu thụ được cùng toàn bộ công cụ dùng để trộm cắp tài sản; T2 giao nộp 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 89D1-008.08. Tại Cơ quan điều tra, ông Bùi Minh N1 giao nộp 01 bình ắc quy màu trắng xanh nhãn hiệu GS100, loại 12V 100Ah, kích thước (40x20,5x17)cm mua của TT2 ngày 01-3-2024. Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 06/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: 01 mô tơ màu ghi xám có giá trị 1.485.000 đồng; 04 bình ắc quy N100GS có giá trị 1.665.000đồng/bình x 4 bình = 6.660.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 8.145.000 đồng. Quá trình điều tra khai thác mở rộng án, Đỗ Công T khai nhận ngoài thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Khu đô thị N - P. C - TP N cùng Phạm Việt T2 vào ngày 01-3-2024, T còn một mình thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác vào các ngày 16-2-2024 và ngày 27-2-2024 tại công trình xây dựng cầu qua Sông Đ - TP N. Nội dung cụ thể như sau: Vụ thứ nhất: Ngày 16-02-2024, Đỗ Công T trộm cắp 02 bình ắc quy GS100, 12V-100Ah và Enimac A; 02 bình ắc quy Đồng Nai 12V-100Ah của máy xúc và xe lu tại công trình xây dựng cầu vượt qua sông Đ, đường S, phường T, thành phố N đến ngày 17-2-2024 mang bán cho cửa hàng mua bán sắt vụn của bà Trần Thị Bích N, sinh năm 1968, địa chỉ số F đường G, phường V, thành phố N bán với giá 1.600.000 đồng. Bà N đã bán lại 04 bình ắc quy trên cho một người thu mua phế liệu không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Vụ thứ hai: Ngày 27-02-

3

2024, Đỗ Công T trộm cắp 02 bình ắc quy của xe ô tô tải tại công trình xây dựng cầu vượt qua sông Đ, phường C, thành phố N, đến ngày 28-02-2024 bán cho anh Đoàn Văn K1, sinh năm 1985, địa chỉ tại số D đường V, phường V, thành phố N với giá 800.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra, anh Đoàn Văn K1 giao nộp 01 bình ắc quy GS100, loại 12V-100Ah, kích thước (40x20,5x17)cm, 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai, loại 12V- 100Ah, kích thước (40x20,5x17)cm mua của Trứ ngày 28-02-2024. Bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 28-03-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận:

  • - 01 bình ắc quy nhãn hiệu GS100, màu trắng xanh, định giá qua hồ sơ, có giá trị 1.800.000 đồng, 01 bình ắc quy nhãn hiệu Enimac, màu đen đỏ, định giá qua hồ sơ, có giá trị là 1.370.000 đồng, 02 bình ắc quy nhãn hiệu dongnai, màu trắng đen, định giá qua hồ sơ, có giá trị 1.830.000 đồng/bình x 2 bình = 3.660.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt (vụ thứ nhất) là 6.830.000 đồng.
  • - 01 bình ắc quy nhãn hiệu GS100, màu trắng xanh có giá trị 1.130.000 đồng, 01 bình ắc quy nhãn hiệu dongnai, màu trắng đen có giá trị 1.130.000 đồng. Tổng giá trị tài sản (vụ thứ hai) là 2.260.000 đồng.

Cơ quan CSĐT - C ra 02 quyết định xử lý vật chứng số 514 ngày 09-3-2024 và số 787 ngày 08-4-2024, trả lại 06 bình ắc quy và 01 mô tơ điện đã thu hồi được cho đại diện Công ty CP X là anh Phan Văn D. Anh Dũng đã nhận lại tài sản và không đề nghị các bị can phải bồi thường đối với 04 bình ắc quy còn lại, không đề nghị bồi thường dân sự gì khác.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 89D1-008.08, Cơ quan CSĐT - C đã tiến hành làm việc với người đứng tên đăng ký xe là anh Nguyễn Hữu K2, sinh năm 1991, trú tại: xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Anh K2 cho biết chiếc xe máy nêu trên được anh K2 mua từ năm 2011, đến năm 2019 đã bán lại cho một người đàn ông không quen biết với giá 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Anh K2 không viết giấy tờ mua bán và không nhớ thông tin gì về người này. Đã tiến hành tra cứu theo cơ sở dữ liệu lưu trữ tại Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1 xe máy nêu trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Ngày 08-4-2024, Cơ quan CSĐT C ra Lệnh nhập kho vật chứng số 231 đối với toàn bộ công cụ và phương tiện phạm tội nêu trên để đảm bảo quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

Về vấn đề dân sự:

Ngày 28-2-2024, anh Đoàn Văn K1 đã trả cho Đỗ Công T số tiền 800.000 đồng là tiền mua 02 bình ắc quy của T. Anh K1 đã giao nộp 02 bình ắc quy cho Cơ quan điều tra và không đề nghị T phải bồi thường số tiền 800.000 đồng trên, không đề nghị bồi thường dân sự gì khác. Vậy vấn đề dân sự đã được giải quyết xong.

4

Bản Cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Đỗ Công T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự ; truy tố Phạm Việt T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Công T và bị cáo Phạm Việt T2 khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đỗ Công T và bị cáo Phạm Việt T2 theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Đỗ Công T và bị cáo Phạm Việt T2 phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
  • - Về hình phạt chính:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đỗ Công T từ 36 tháng đến 39 tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17 điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Việt T2 từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  • - Về vấn đề dân sự: Do anh Phan Văn D không yêu cầu bồi thường với 04 bình ắc quy không thu hồi được và anh Đoàn Văn K1 không yêu cầu chứ hoàn lại số tiền 800.000 đồng đã mua ắc quy cho nên vấn đề dân sự không đặt ra giải quyết.
  • - Về vật chứng: 01 kìm cộng lực dài khoảng 80 cm; 01 cờ lê dài 13,5 cm, 2 đầu có ghi số 14,17; 01 mỏ lết dài 20 cm; 01 xà cầy bằng sắt xoắn dài khoảng 60 cm do các bị cáo sử dụng để phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với chiếc xe máy BKS 89D1-008.80 thu giữ của bị cáo Phạm Việt T2 là của bị cáo mua bằng tiền của bị cáo đã được bị cáo dùng làm phương tiện điều khiển khi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Về án phí: Buộc các bị cáo Đỗ Công TPhạm Việt T2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

5

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Công T, bị cáo Phạm Việt T2 và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Đỗ Công T và bị cáo Phạm Việt T2 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ như: Lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Các Kết luận định giá số 08/KL-HĐĐGTS ngày 06-3-2024 và Kết luận định giá số 17/KL-HĐĐGTS ngày 28-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Do vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 01-3-2024, bị cáo TT2 có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 mô tơ điện của xe trộn bê tông và 02 bình ắc quy của xe lu, 02 bình ắc quy của máy xúc tại khu vực xây dựng khu đô thị N, phường C, thành phố N có tổng trị giá 8.145.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo T còn thực hiện hai vụ trộm cắp khác một mình vào các ngày 16-2-2024 và ngày 27-2-2024 tại công trình xây dựng cầu qua sông Đ, thành phố N. Cụ thể: ngày 16-02-2024, Đỗ Công T trộm cắp 01 bình ắc uy GS100, 12V-100Ah và 01 bình ắc quy Enimac 12V-80Ah; 02 bình ắc quy Đồng Nai 12V-100Ah của máy xúc và xe lu tại công trình xây dựng cầu vượt qua sông Đ, đường S, phường T, thành phố N có tổng trị giá 6.830.000 đồng. Ngày 27-02-2024, Đỗ Công T trộm cắp 02 bình ắc quy của xe ô tô tải tại công trình xây dựng cầu vượt qua sông Đ, phường C, thành phố N có tổng trị giá 2.260.000 đồng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tổng giá trị tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt của Công ty Cổ phần X là 8.145.000 đồng. Riêng bị cáo T còn thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản khác vào ngày 16-02-2024 và ngày 27-02-2024 với tổng trị giá tài sản là 9.090.000 đồng nên tổng giá trị tài sản bị cáo T chiếm đoạt là 17.235.000 đồng. Vì vây, bị cáo T và bị cáo T2 phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với giá trị tài sản đã chiếm đoạt. Bản thân, bị cáo Đỗ Công T đã có 02 tiền án, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này bị cáo thực hiện hành vi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo T phạm tội “ Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định

6

tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ.[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo T đã tự nguyện giao nộp lại tài sản đã trộm cắp để khắc phục hậu quả, bị cáo T2 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo T2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên, do vậy bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo T2 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.Về vai trò của bị cáo: Các bị cáo cùng cố ý thực hiện một tội phạm vào ngày 01-3-2024 nên được xác định là đồng phạm. Về vai trò của các bị cáo tham gia thực hiện ngày 01-3-2024 thì bị cáo Đỗ Công T là người khởi xướng và rủ bị cáo Phạm Việt T2 đi trộm cắp tài sản đồng thời vừa là người thực hành khi trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp nên giữ vai trò thức nhất. Bị cáo Phạm Việt T2 là người thực hành tích cực, chuẩn bị công cụ, phương tiện, đứng cảnh giới cho bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên có vai trò thứ hai. [4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Bản thân bị cáo Đỗ Công T có 02 tiền án, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này bị cáo thực hiện hành vi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, bị cáo T2 có nhân thân xấu. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc trong khung đã truy tố đối với các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về vấn đề dân sự: Do anh Phan Văn D đã nhận đủ 06 bình ắc quy và 01 mô tơ điện và không yêu cầu bồi thường với 04 bình ắc quy không thu hồi được. Anh Đoàn Văn K1 không yêu cầu T hoàn lại số tiền 800.000 đồng đã mua ắc quy cho nên vấn đề dân sự không đặt ra giải quyết.[7] Về vấn đề xử lý vật chứng: 01 kìm cộng lực dài khoảng 80 cm; 01 cờ lê dài 13,5 cm, 2 đầu có ghi số 14,17; 01 mỏ lết dài 20 cm; 01 xà cầy bằng sắt xoắn dài khoảng 60 cm do các bị cáo sử dụng để phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.Đối với chiếc xe máy BKS 89D1-008.80 thu giữ của bị cáo Phạm Việt T2 có nguồn gốc là của bị cáo đã được bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

7

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với ông Bùi Minh N1, anh Đoàn Văn K1 và bà Trần Thị Bích N không biết nguồn gốc tài sản đã mua là do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không xử lý.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Công T và bị cáo Phạm Việt T2 phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
  2. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đỗ Công T:

    Xử phạt bị cáo Đỗ Công T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01-3-2024.

    Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phạm Việt T2.

    Xử phạt bị cáo Phạm Việt T2 01(một) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01-3-2024.

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
    • - Tịch thu tiêu huỷ 01 kìm cộng lực dài khoảng 80 cm; 01 cờ lê dài 13,5 cm, 2 đầu có ghi số 14,17; 01 mỏ lết đã han gỉ dài 20 cm; 01 xà cầy bằng sắt xoắn dài khoảng 60 cm;
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy nouvo BKS 89D1-008.80.

    Chi tiết vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định.

  4. Án phí: Căn cứ tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Bị cáo Đỗ Công T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo Phạm Việt T2 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Đỗ Công T và bị cáo Phạm Việt T2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là Công ty X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Bích N và ông Đoàn Văn K1 có quyền kháng cáo nội dung liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự

  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan;

- VKSND TP. Nam Định (02 bản);

- TAND tỉnh Nam Định;

- Công an TP. Nam Định;

- Chi cục THADS TP. Nam Định;

Nơi nhận:

- Lưu hồ sơ vụ án + VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Kim Huế

9

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Thị Kim Huế

10

11

12

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 119/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Công Trứ, Phạm Việt Trường (trộm cắp tài sản)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger