Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 17 - 11 - 2023.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Nguyên Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Mỹ.

Bà Hà Thị Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 348/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2023/QĐXX-ST ngày 30 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2023/QĐST- HN ngày 07 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Tú A, sinh năm 1993 (có mặt)
  • Địa chỉ: Số C đường C, khu phố B, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
  • * Bị đơn: Anh Lữ Thanh D, sinh năm 1988. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số A đường L, khu phố C, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Ngô Thị Tú A trình bày:

Chị Tú A và anh Lữ Thanh D qua tìm hiểu, yêu thương và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đã được UBND phường A cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 95 ngày 23/7/2014.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống ở nhà của cha mẹ của anh D. Quá trình chung sống thì thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc. Anh chị có 03 người con chung tên Lữ Ngô Bảo A1, sinh ngày 01/02/2015, Lữ Ngô Phước T, sinh ngày 24/11/2019 và Lữ Ngô Tuệ A2, sinh ngày 26/9/2020. Tuy nhiên thời gian về sau giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng, dẫn đến thường xuyên cải vã, nguyên nhân là do anh D không chí thú làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con, tụ tập cùng bạn bè xấu tham gia tệ nạn xã hội. Đỉnh điểm là khi chị Tú A đang mang thai người con thứ 03 thì anh D đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì sử dụng ma túy nên chị Tú A đã dọn về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc và dành tình cảm cho nhau nữa.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị Tú A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • Về hôn nhân: Chị Tú A xin được ly hôn với anh Lữ Thanh D.
  • Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có ba người con chung tên Lữ Ngô Bảo A1, sinh ngày 01/02/2015, Lữ Ngô Phước T, sinh ngày 24/11/2019 và Lữ Ngô Tuệ A2, sinh ngày 26/9/2020. Chị Tú A yêu cầu được nuôi 03 người con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung và nợ chung : Chị Tú A xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Ngô Thị Tú A xác định giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Lữ Thanh D và các yêu cầu về con chung, tài sản chung và nợ chung.

* Đối với bị đơn anh Lữ Thanh D: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến nay theo quy định pháp luật, tuy nhiên anh D không có mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, anh Lữ Thanh D vắng mặt.

* Tại Biên bản lập ngày 15/9/2023, Tòa án ghi nhận ý kiến của cháu Lữ Ngô Bảo A1 (con chung giữa anh D và chị Tú A) như sau: Cháu Bảo A1 xác định đang sinh sống cùng mẹ; cháu có nguyện vọng được sống cùng với chị Tú A nếu cha mẹ cháu ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngô Thị Tú A khởi kiện xin ly hôn với anh Lữ Thanh D; có HKTT tại số A L, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và hiện đang sinh sống tại địa chỉ này và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" và theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Anh Lữ Thanh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị Tú A đồng ý xét xử vắng mặt anh D theo quy định pháp luật; do đó Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt anh Lữ Thanh D.

[3] Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị Tú A và anh Lữ Thanh D, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Tú A và anh D kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đã được UBND phường A cấp giấy chứng nhận kết hôn 95 ngày 23/7/2014, nên theo quy định tại Điều 9, Điều 11 và Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị Tú A, Hội đồng xét xử nhận định:

Theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình thì quan hệ vợ chồng phải dựa trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ; vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng nhau xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa vợ chồng chị Tú A và anh D phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn; nguyên nhân theo chị Tú A xác định do anh D không chí thú làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con, tụ tập cùng bạn bè xấu tham gia tệ nạn xã hội. Đến khi chị Tú A đang mang thai người con thứ 03 thì anh D đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì sử dụng ma túy nên chị Tú A đã dọn về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Tại phiên tòa, chị Tú A xác định mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng không còn tình cảm do đó chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh D.

Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh của đương sự, phía anh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, tuy nhiên anh D không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc phản đối lời trình bày của chị Tú A cũng như các chứng cứ do chị Tú A cung cấp để làm cơ sở giải quyết vụ án, xem xét bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho anh.

Qua xem xét, đánh giá Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa chị Tú A và anh D đã đến mức trầm trọng, vợ chồng mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, anh D cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; do đó đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu ly hôn của chị Tú A là có căn cứ; sau khi nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Tú A, xử cho chị được ly hôn với anh Lữ Thanh D.

[5] Xét yêu cầu của chị Tú A về việc nuôi con chung, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Tú A và anh D chung sống có 03 (ba) người con chung Lữ Ngô Bảo A1, sinh ngày 01/02/2015, Lữ Ngô Phước T, sinh ngày 24/11/2019 và Lữ Ngô Tuệ A2, sinh ngày 26/9/2020.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Tú A xác định các con chung hiện đang sống cùng chị, do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị Tú A đã thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của mình, đảm bảo đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp cho các con sinh sống, học tập và phát triển; đồng thời chị Tú A cũng không cản trở việc anh D thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; do đó chị Tú A xác định giữ nguyên yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị Tú A không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Phía anh D, trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của chị Tú A về việc nuôi con chung.

Xét yêu cầu của chị Tú A về việc nuôi con chung là phù hợp quy định pháp luật và phù hợp nguyện vọng của cháu Bảo A1; do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị Tú A, giao cháu 03 người con chung tên Lữ Ngô Bảo A1, sinh ngày 01/02/2015, Lữ Ngô Phước T, sinh ngày 24/11/2019 và Lữ Ngô Tuệ A2, sinh ngày 26/9/2020 cho chị Tú A tiếp tục nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Tú A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các bên có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tú A xác định quá trình chung sống chị và anh D không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Do anh Lữ Thanh D không có lời khai tại Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nếu sau này anh D có yêu cầu về việc con chung, về chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện độc lập.

[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Ngô Thị Tú A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Thị Tú A và anh Lữ Thanh D.
  2. Về quan hệ con chung: Giao 03 (ba) người con chung giữa chị Tú A và anh DLữ Ngô Bảo A1, sinh ngày 01/02/2015, Lữ Ngô Phước T, sinh ngày 24/11/2019 và Lữ Ngô Tuệ A2, sinh ngày 26/9/2020 cho chị Tú A trực tiếp nuôi dưỡng.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Tú A không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

    Các bên có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.

  3. Về án phí: Nguyên đơn chị Ngô Thị Tú A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Tú A đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0007693 ngày 15/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/11/2023). Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND Tp. Rạch Giá;
  • - Chi cục THA dân sự Tp. Rạch Giá;
  • - Cơ quan đã thực hiện ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nguyên Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2023/HNGĐ-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 119/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn do mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger