Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY - TP. HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2023/HSST

Ngày: 16/11/2023.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tú.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Bích Thủy và ông Phùng Khắc Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Ngọc Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Dịu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Quách Phúc D, sinh năm 2000 tại thị xã S, Hà Nội.

Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố G, phường Đ, quận N, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Số A phố Q, phường Q, thị xã S, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quách Phúc D1 và bà Trần Thị Phương C; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến nay; Có mặt.

- Bị hại: Anh Đỗ S, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn E, xã L, huyện P, TP .; Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty cổ phần C1 (nay đổi tên thành Công ty CP công nghệ T3);

    Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A khối B, tòa nhà S, đường P, phường M, quận N, TP ..

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Minh H - Chức vụ Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Sỹ T - Chức vụ: Trưởng phòng pháp lý Công ty cổ phần C2;

Địa chỉ: P, A2 - C3, phườngHoàng Liệt, quận H, TP .; Vắng mặt.

  1. Anh Trần Danh T1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường Đ, quận N, Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quách Phúc D ký hợp đồng lao động từ ngày 14/9/2022 làm chuyên viên kinh doanh tại Công ty cổ phần C1 (nay đổi tên thành Công ty CP công nghệ T3, gọi tắt là Công ty V. Quách Phúc D được Công ty phân công về làm việc ở địa chỉ tại chi nhánh S1 phố L, phường L, TX S, TP Hà Nội với nhiệm vụ tìm kiếm, tư vấn làm hồ sơ cho khách hàng có nhu cầu vay tiền, nhắc nợ khi khách quá hạn nộp tiền hoặc thu tiền khi khách đến nộp tiền trực tiếp tại chi nhánh, làm thủ tục nộp tiền thu của khách vào tài khoản của Công ty. Ngày 19/10/2022, Công ty V ký hợp đồng với anh Đỗ S về việc cho anh S vay số tiền 200.000.000 đồng, ngày 19 hàng tháng anh S có nghĩa vụ thanh toán trả góp tiền gốc và tiền lãi là 8.800.000 đồng/tháng vào tài khoản số 00012009250 ngân hàng V1 của Công ty V.

Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Quách Phúc D đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh Đỗ Sang . Khoảng hơn 21 giờ ngày 23/11/2022, D gọi điện thoại cho anh S để nhắc anh S nộp tiền gốc và lãi về Công ty V nếu không sẽ bị phạt. Mặc dù hệ thống tài khoản Ngân hàng của Công ty V không bị lỗi nhưng D đã đưa ra thông tin gian dối với anh S là do tối muộn nên hệ thống tài khoản Ngân hàng của Công ty V bị lỗi, không tiếp nhận tiền do khách hàng nộp vào; anh S có thể chuyển khoản trực tiếp vào số tài khoản 2886263979 của D mở tại Ngân hàng V1, sau đó D sẽ báo cáo và nộp về Công ty VFC theo quy định. Do tin tưởng D nên anh S đã chuyển số tiền 8.800.000 đồng vào tài khoản số 2886263979 của D. D đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền này để chi tiêu cá nhân; không báo cáo, không nộp về Công ty V. Sau đó Công ty V phát hiện ra sự việc, đã làm việc với Quách Phúc D, D thừa nhận việc làm của mình, cam kết sẽ hoàn trả tiền cho công ty nhưng sau đó D tự ý nghỉ việc và bỏ đi khỏi địa phương.

Để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng, Công ty V đã ghi nhận việc anh Đỗ S hoàn thành nghĩa vụ thanh toán đối với số tiền 8.8000.000 đồng (số tiền anh S đã chuyển vào tài khoản của Quách Phúc D ngày 23/11/2022).

Ngày 16/02/2023 đại diện của Công ty V2 có đơn tố giác về hành vi lừa đảo trên của Quách Phúc D. Sau khi tiếp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh triệu tập Quách Phúc D đến làm việc, Tuy nhiên D vắng mặt tại địa phương nên gia đình, chính quyền địa phương và Công ty V không biết D làm gì, ở đâu. Vì vậy, Cơ quan CSĐT – Công an T4 đã ra Quyết định truy tìm Số 08/QĐ-TT, ngày 21/3/2023 đối với D. Ngày 09/9/2023, phát hiện D đang ở quán trà đá ở phường Đ, quận N, Hà Nội, Công an thị xã T4 đã ra quyết định giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Quách Phúc D và thu giữ vật chứng gồm 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max, vỏ màu trắng, đã qua sử dụng; Về dân sự: Công ty V đã khấu trừ 5.600.000 đồng tiền lương của D khi làm việc tại Công ty V. Anh Trần Danh T1 là cậu của D đã chuyển số tiền 3.200.000đồng vào tài khoản của Công ty V để khắc phục hậu quả thay cho D. Nay Công ty V không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho D.

Đối với anh Đỗ S đã được công ty V xác nhận đã thanh toán số tiền mà anh S đã chuyển vào tài khoản của Quách Phúc D. Nay anh S cũng không có yêu cầu đề nghị gì. Anh Trần danh T2 cũng không yêu cầu D phải trả lại số tiền 3.200.000 đồng mà anh đã nộp váo Công ty V thay cho D.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quách Phúc D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 117/CT – VKS ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố Quách Phúc D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Quách Phúc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Quách Phúc D phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt Quách Phúc D từ 6 đến 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/9/2023. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo D một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, vỏ màu trắng, đã qua sử dụng; Hình phạt bổ sung không áp dụng; án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Tại phiên tòa bị cáo Quách Phúc D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản hỏi cung bị can, cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 23/11/2023, Quách Phúc D đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối để anh Đỗ S chuyển số tiền 8.800.000 đồng (là tiền trả nợ gốc, nợ lãi hàng tháng trả cho Công ty cổ phần C2) vào tài khoản của D để chiếm đoạt số tiền này. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người đúng tội.

  3. Xét hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

  4. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, đó là những tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

  5. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

  6. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  7. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu đề nghị gì nên không phải xem xét.

  8. Về xử lý vật chứng: Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu trắng Công an thu giữ, xét thấy chiếc điện thoại này bị cáo không sử dụng để liên lạc hay nhắn tin cho anh S vào tối ngày 23/11/2023, do không liên quan đến tội phạm nên được trả lại cho bị cáo.

  9. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Quách Phúc D phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Quách Phúc D 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 09/9/2023.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, vỏ màu trắng, đã qua sử dụng.

    (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/10/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây và Công an thị xã T4, Hà Nội).

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội. Bị cáo Quách Phúc D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSNDThành phố Hà Nội;
  • - VKSNDTX Sơn Tây;
  • - CCTHADS TX Sơn Tây;
  • - Công an TX Sơn Tây;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án/VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2023/HSST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 119/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: D lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger