Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/DS-PT

Ngày: 15 - 7 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân

Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Bích Hạnh

Bà Đào Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa:

Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 76/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Minh T, sinh năm: 1957.
  2. Bà Trần Thanh T1, sinh năm 1963.

Cùng địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành Vĩnh T2, sinh năm 1979

Địa chỉ: số B C, khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn:

  1. Ông Lê Minh S, sinh năm 1925
  2. Ông Lê Minh Q, sinh năm 1964

Cùng địa chỉ: ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

  1. Bà Lê Thị Bích T3, sinh năm 1965

Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

  1. Bà Lê Kim Q1, sinh năm 1973

Địa chỉ: số A, đường C, khu V, phường H, quận N, TP Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 1971; cư trú tại: Á, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn P: Anh Huỳnh Văn Ú, sinh năm 1984; cư trú tại: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

  1. Bà Lê Thị Hoa L, sinh năm 1976; cư trú tại: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp D, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  2. Ông Hồ Văn T4, sinh năm 1970; cư trú tại: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  3. Ông Lê Thanh T5, sinh năm 1950; cư trú tại: Khu V, Phường D, TP , tỉnh Hậu Giang.
  4. Ông Lê Minh T6, sinh năm 1954; cư trú tại: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  5. Ông Lê Quang V, sinh năm 1961; cư trú tại: Số B, đường C, phường A, quận N, TP ..
  6. Bà Lê Hồng T7, sinh năm 1965; cư trú tại: ấp I, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  7. Bà Phan Thị Ú1, sinh năm 1969; cư trú tại: Á, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  8. Chị Lê Ngọc D, sinh năm 1993; cư trú tại: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  9. Chị Lê Kim T8, sinh năm 1997; cư trú tại: Á, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  10. Chị Lê Phương N, sinh năm 1995; cư trú tại: Á, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  11. Anh Lê Quốc T9, sinh năm 1984; cư trú tại: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
  12. Chị Lê Thị Yến N1, sinh năm 1992; cư trú tại: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
  13. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang

Địa chỉ: Ấp 1, thị trấn Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc Thanh T10. Chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng tài nguyên và Môi trường huyện L.

  1. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H

Địa chỉ: Số C, đường X, Phường E, thành phố V, tỉnh Hậu Giang

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Thanh T11. Chức vụ: Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H.

  1. Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Địa chỉ: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T12 – Chức vụ: Chuyên viên.

- Người kháng cáo: ông Nguyễn Thành Vĩnh T2 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Lê Minh T, Trần Thanh T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Minh T, bà Trần Thanh T1 cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Thành Vĩnh T2 trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông bà khai phá và gia đình cùng quản lý, sử dụng. Ngày 23/12/1993 hộ ông Lê Minh S được Ủy ban nhân huyện L, tỉnh Cần Thơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000149 gồm các thửa 110, 111, 402 tờ bản đồ số 6 với tổng diện tích là 38.182m², đất tọa lạc tại ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Cần Thơ (nay là ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang). Ngày 01/02/2005 ông Lê Minh S lập giấy ủy quyền cho ông T được quyền sử dụng, canh tác, đăng ký lại giấy chứng nhận phần đất tổng diện tích là 29.687m², trong đó thửa 111 diện tích 25.137m², thửa 402 diện tích 4.550m². Ông S lập ủy quyền cho ông T được sử dụng phần đất trên với thỏa thuận ông T phải giao cho ông S 140 chỉ vàng 24K loại 9999 và trả tiền Ngân hàng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về. Thực tế ông S đã chuyển nhượng phần đất tại thửa 111 và thửa 402 cho ông T nhưng do không hiểu pháp luật nên không lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi ông T giao đủ 140 chỉ vàng 24K loại 9999 thì ông S giao đất cho ông T canh tác tại thửa 111, còn phần đất tại thửa 402 khi nào trả tiền nợ Ngân hàng xong thì ông S tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T. Ông T canh tác phần đất tại thửa 111 được 03 năm đến năm 2008 thì ông Q vào chiếm sử dụng một phần đất, còn lại ông T canh tác 6,5 công đến năm 2015 thì ông Q chiếm lại toàn bộ.

Hiện tại thửa 111 ông S đã sang tên cho ông Q đứng tên và ông Q đã chuyển nhượng lại cho ông Hồ Văn T4 diện tích 21.137m², còn lại ông Q vẫn đang canh tác. Thời điểm ông S sang tên cho ông Q thì phần đất này còn đang tranh chấp. Còn việc ông Lê Minh Q chuyển nhượng cho ông Hồ Văn T4 cũng không hợp pháp, vì thời điểm chuyển nhượng phần đất này cũng còn đang tranh chấp.

Phần đất thửa 402 ông T đang đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất. Việc ông S có chuyển nhượng phần đất này cho vợ chồng bà Lê Thị Hoa L, ông Huỳnh Văn P hay không thì nguyên đơn không biết. Phần đất này ông T có canh tác từ năm 2013, canh tác được khoảng 02-03 năm thì bà Hoa L ngăn cản không cho ông T canh tác nữa. Nguyên đơn không đồng ý theo yêu cầu độc lập của bà Lê Thị Hoa L và ông Huỳnh Văn PPhúc.

Nay nguyên đơn yêu cầu như sau:

  1. Xác định giao dịch dân sự lập ngày 01/02/2005 giữa ông Lê Minh T và ông Lê Minh S là giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Công nhận phần đất tại thửa 111 diện tích 25.137m² (đo đạc thực tế là 24.653,4m²) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Lê Minh T và vợ là bà Trần Thanh T1. Buộc hộ ông Lê Minh S có trách nhiệm giao trả đất lại cho vợ chồng ông Lê Minh T.
  2. Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông Lê Minh S và ông Lê Minh Q đối với phần đất thửa 111. Đồng thời hủy thủ tục xác nhận tặng cho ông Lê Minh Q ngày 27/12/2019.
  3. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Minh Q và ông Hồ Văn T4 là giao dịch dân sự vô hiệu.
  4. Công nhận cho ông Lê Minh T được quyền sử dụng phần đất thửa 402 theo kết quả đo đạc thực tế diện tích 7.694,8m² (trừ đi phần diện tích nhà nước đã thu hồi 1.750,2m²). Còn số tiền bồi thường do thu hồi đất, yêu cầu công nhận cho nguyên đơn được quyền sở hữu và được nhận theo quy định.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Minh Q trình bày:

Phần đất tại thửa 111 diện tích 25.137m² trước đây là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ ông Lê Minh S đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn việc thỏa thuận giao dịch giữa ông Lê Minh T và ông Lê Minh S thì ông không biết và không liên quan gì. Ngày 27/12/2019, hộ ông S tặng cho ông toàn bộ phần đất tại thửa 111, ông đã được đứng tên hợp pháp và đất không có tranh chấp nên ông đã chuyển nhượng cho ông Hồ Văn T4 diện tích 21.137m² với giá 1.300.000.000 đồng, ông T4 đã trả cho ông được 1.270.000.000 đồng; còn lại 30.000.000 đồng. Nhưng sau đó, do tranh chấp với ông T nên chưa thực hiện thủ tục sang tên cho ông T4 được. Phần đất còn lại ông đang quản lý, sử dụng. Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông yêu cầu được quản lý, sử dụng ổn định phần đất còn lại thửa 111 diện tích là khoảng 4.000m²; phần đã chuyển nhượng cho ông T4 thì ông đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng, đồng ý sang tên quyền sử dụng đất cho ông T4.

Đối với phần đất đang tranh chấp với ông Huỳnh Văn P và bà Lê Thị Hoa L tại thửa 402, phần đất này trước đây là của ông Lê Minh S. Năm 1994, ông S chuyển nhượng toàn bộ thửa đất này cho vợ chồng ông Huỳnh Văn P, diện tích là 7.400m². Hai bên đã nhận vàng và giao đất xong, vợ chồng ông P đã quản lý, sử dụng phần đất này từ khi nhận chuyển nhượng đến nay. Phần đất này trước đây ông S có nói là tặng cho ông Lê Minh T và ông T tự liên hệ với vợ chồng ông P để xin chuộc lại đất. Khi đó, ông S mới sang tên quyền sử dụng đất cho ông T đứng tên tại thửa 402. Phần đất này ông S đã chuyển nhượng cho vợ

chồng ông P xong, quyền sử dụng đất cũng đã tách cho ông T nên ông không còn liên quan gì. Ông đồng ý để phần đất này cho vợ chồng ông P tiếp tục quản lý, sử dụng, không có tranh chấp và không có yêu cầu gì.

Bị đơn ông Lê Minh S, bà Lê Thị Bích T3, bà Lê Kim Q1 trong quá trình giải quyết vụ án vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hoa L trình bày:

Bà và ông Huỳnh Văn P kết hôn năm 1992; vợ chồng chung sống đến năm 2011 thì ly hôn theo quyết định của Tòa án. Quá trình chung sống bà và ông P có tạo lập được phần tài sản là quyền sử dụng đất diện tích khoảng 05 công tầm 03m. Phần đất này bà và ông P nhận chuyển nhượng của ông Lê Minh S và ông Lê Minh Q. Sau khi nhận chuyển nhượng đất bà và ông P cùng canh tác từ năm 1993 đến khi vợ chồng ly hôn thì ông P có kêu chuyển nhượng lại cho người khác nhưng bà không đồng ý, vì đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chưa phân chia. Phần đất này hiện ông Lê Minh T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 402 diện tích 4.450m² và còn một phần liền kề trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác do vợ chồng ông T là bà Trần Thanh T1 đứng tên, thực tế thì ông vợ chồng ông T không có canh tác phần đất này ngày nào. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông Huỳnh Văn P với ông Lê Minh S, ông Lê Minh Q. Công nhận cho bà được quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 7.694,8m²; tọa lạc tại ấp A, thị trấn V, huyện L tỉnh Hậu Giang; yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho đất giữa ông Lê Minh S với ông Lê Minh T đối với phần đất mà ông S đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà thuộc thửa 402 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01148 cấp ngày 03/6/2013 cho ông Lê Minh T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn P ủy quyền cho anh Huỳnh Văn U trình bày:

Năm 1993, ông Huỳnh Văn K có nhận chuyển nhượng của ông Lê Minh S một phần đất diện tích 7.400m². Sau đó, để di chúc lại cho cháu là ông Huỳnh Văn P. Ngày 04/01/1994, ông Huỳnh Văn P và ông Lê Minh S làm lại giấy chuyển nhượng cũng với diện tích 7.400m² và ông P đã nhận đất canh tác từ năm 1993. Sau đó, ông P yêu cầu ông S làm thủ tục sang tên nhưng ông S viện nhiều lý do rồi kéo dài cho đến nay chua sang tên được. Sau này, ông P mới biết phần đất này ông S đã sang tên quyền sử dụng đất cho ông Lê Minh T. Phần đất này không phải là tài sản chung của vợ chồng ông P và bà Hoa L. Nay ông Huỳnh Văn P yêu cầu ông Lê Minh S tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng lập ngày 04/01/1994. Công nhận phần đất diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa 402 diện tích 7.694,8m² cho ông Huỳnh Văn P được quyền sử dụng, đất tọa lạc tại ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn T4 trình bày:

Ngày 31/12/2019, ông với ông Lê Minh Q có lập hợp đồng đặt cọc để đảm bảo cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa 111, tọa lạc tại ấp

A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Diện tích chuyển nhượng là 21.137m² với giá 1.300.000.000 đồng. Ngay khi lập hợp đồng đặt cọc ông đã giao cho ông Q số tiền là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Đến ngày 12/01/2020 giao 200.000.000 đồng, ngày 15/01/2020 giao thêm 500.000.000 đồng. Sau đó ông Q đã giao đủ số đất chuyển nhượng cho ông canh tác, đến ngày 23/4/2020 ông giao tiếp số tiền 70.000.000 đồng. Tổng số tiền đã giao cho ông Q là 1.270.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng, khi nào làm thủ tục chuyển nhượng xong, ông sẽ giao đủ tiền. Khi làm hợp đồng đặt cọc thì ông cũng có tìm hiểu về phần đất này và được biết là đất không tranh chấp, ông Lê Minh Q đã được đứng tên quyền sử dụng đất nên ông Q mới chuyển nhượng cho ông.

Nay ông yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 31/12/2019 giữa ông với ông Lê Minh Q; công nhận cho ông được quyền sử dụng đất diện tích 21.137m² (đo đạc thực tế diện tích 21.176,2m²), tại thửa 111, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quang V, ông Lê Minh T6, bà Lê Hồng T7 (các con của ông Lê Minh S) cùng trình bày thống nhất: Phần đất tranh chấp là của ông Lê Minh S nên thuộc quyền quyết định của ông S. Các ông bà không có yêu cầu gì trong vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh T5 (là con của ông Lê Minh S) trình bày: Phần đất tranh chấp ông S đã cho ông Q canh tác từ trước đến nay. Ông không nghe nói việc ông S có chuyển nhượng đất cho ông T và ông S cũng không có nhận vàng hay tiền gì của ông T. Phần đất này là của ông S nên ông S có quyền quyết định, ông không có yêu cầu gì trong vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Ú1 (là vợ của ông Lê Minh Q), chị Lê Ngọc D, chị Lê Phương N, chị Lê Kim T8 là các con của ông Lê Minh Q cùng trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu của ông Lê Minh Q. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện L do ông Trần Ngọc T13 Thòn là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01448 ngày 03/6/2013 cho ông Lê Minh T thực hiện theo quy định tại Điều 152 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ. Tuy nhiên, về hợp đồng tặng cho cần phải xác minh lại cho phù hợp với quy định tại Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ. Đồng thời việc sử dụng đất thực tế do bà Lê Thị Hoa L sử dụng từ lúc nhận chuyển nhượng nhưng đến năm 2013 ông S lại tặng cho phần đất này ông T nên cần phải xem xét lại đối tượng sử dụng đất.

Theo Quyết định số 2265/QĐ-UBND ngày 24 tháng 8 năm 2022 của Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang; sau đó được điều chỉnh bởi quyết định số 2596 và 2597/QĐ-UBND ngày 26/7/2023 của Ủy ban nhân dân huyện L đã thu hồi phần đất tranh chấp giữa bà Lê Thị Hoa L với ông Lê Minh T, bà Trần

Thanh T1 diện tích 1.750,2m² để thực hiện đầu tư xây dựng công trình đường T. Số tiền đã được phê duyệt bồi thường, hỗ trợ là 220.203.720đ theo quyết định số 2598/QĐ-UBND ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện L, tỉnh Hậu Giang do ông Nguyễn Văn T12 là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ủy ban nhân dân huyện L đã ban hành Quyết định thu hồi diện tích 1.750,2m² là phần đất hiện đang tranh chấp giữa bà Lê Thị Hoa L với ông Lê Minh T, bà Trần Thanh T1 để thực hiện đầu tư xây dựng công trình đường T; đã phê duyệt phương án bồi thường xong, số tiền được bồi thường tổng cộng là 220.203.720 đồng. Hiện số tiền này chưa được chi trả do có tranh chấp đất; khi nào Tòa án giải quyết tranh chấp xong thì sẽ chi trả cho người được nhận bồi thường, hỗ trợ theo quyết định của Tòa án. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H do ông Dương Thanh T11 là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05187 ngày 18/12/2019 cho ông Lê Minh S đứng tên và xác nhận tặng cho ông Lê Minh Q ngày 27/12/2019 là đảm bảo theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Minh T, bà Trần Thanh T1.
  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi bị đơn trả số tiền 141.630.600đ (một trăm bốn mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi nghìn sáu trăm đồng).
  3. Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Hồ Văn T4 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Lê Minh Q.
  4. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Văn P và bà Lê Thị Hoa L.
  5. Tuyên bố “Giấy ủy quyền” lập ngày 01/02/2005 giữa ông Lê Minh S với ông Lê Minh T là giao dịch dân sự vô hiệu.
  6. Buộc ông Lê Minh S phải hoàn trả cho ông Lê Minh T 140 (một trăm bốn mươi) chỉ vàng 24K loại 9999.
  7. Ổn định cho ông Lê Minh Q được quyền sử dụng đất diện tích 24.653,4m² tại thửa 111, loại đất trồng cây hàng năm khác, tờ bản đồ số 6; tọa lạc tại ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vị trí, diện tích, kích thước theo Mảnh trích đo địa chính số 510-2015 ngày 28/8/2015 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (nay là Văn phòng đăng ký đất đai huyện L).
  8. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 01/4/1994 giữa ông Lê Minh S với ông Huỳnh Văn P.
  1. Công nhận cho ông Huỳnh Văn P và bà Lê Thị Hoa L được quyền sử dụng đất diện tích 5.923.4m² tại một phần thửa 402, một phần thửa 645 loại đất trồng lúa, tờ bản đồ số 6; tọa lạc tại ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vị trí, diện tích, kích thước theo Mảnh trích đo địa chính số 1527-2023 ngày 21/8/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ.
  2. Ông Huỳnh Văn P và bà Lê Thị Hoa L được sở hữu số tiền bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất là 220.203.720đ (hai trăm hai mươi triệu hai trăm lẻ ba nghìn bảy trăm hai mươi đồng).
  3. Đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc chỉnh lý biến động, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhận tiền bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Lê Minh T và Trần Thanh T1 có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo: căn cứ Văn bản ủy quyền ngày 01/02/2005, biên nhận ngày 01/02/2005, kết luận giám định, khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn giao trả đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thành Vĩnh T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Bị đơn ông Lê Minh Q không đồng ý với yêu cầu kháng cáo và thống nhất với nội dung bản án của tòa án cấp sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:

- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31 tháng 8 năm 2023, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Lê Minh T và Trần Thanh T1 có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Lê Minh T và Trần Thanh T1:

Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Phần đất thửa 111, 402 là của hộ ông Lê Minh S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000149 ngày 23/12/1993. Năm 1994, ông S chuyển nhượng thửa 402 cho ông Huỳnh Văn P nhưng chưa sang tên quyền sử dụng đất. Năm 2013, ông S tách thửa 402 chuyển quyền sử dụng cho ông Lê Minh T nhưng ông T không có trực tiếp canh tác đất, mà phần đất này do bà Lê Thị Hoa L và ông Huỳnh Văn P canh tác. Còn thửa 111, ông Lê Minh S được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05187 ngày 18/12/2019, đến ngày 27/12/2019 được xác nhận tặng cho ông Lê Minh Q. Ngày 31/12/2019, ông Lê Minh Q và ông Hồ Văn T4 xác lập hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng phần đất diện tích 21.137m² tại thửa 111.

Nguyên đơn cho rằng ngày 01/02/2005 ông Lê Minh S có làm “Giấy ủy quyền” chuyển nhượng cho ông T phần đất diện tích 29.687m², trong đó thửa 111 diện tích 25.137m², thửa 402 diện tích 4.550m² với giá 140 chỉ vàng 24K loại 9999 và ông T phải trả tiền ngân hàng thay cho ông S. Và ông S đã nhận số vàng của nguyên đơn theo “Biên nhận” ngày 1/2/2005. Tuy nhiên, lời trình bày của ông T không được các bị đơn thừa nhận.

Hội đồng xét xử xem xét “Giấy ủy quyền” ngày 01/02/2005:

- Về hình thức: “Giấy ủy quyền” ngày 01/02/2005 không được lập theo mẫu quy định về hợp đồng chuyển nhượng đất. Phần đất này cấp cho hộ gia đình ông Lê Minh S, hộ của ông Lê Minh S gồm có các thành viên: Lê Minh S, Lê Minh Q, Phan Thị Ú1, Lê Ngọc D, Lê Phương N, Lê Kim T8. Như vậy, tại thời điểm xác lập “Giấy ủy quyền” này chưa xác định được các thành viên trong hộ gia đình và chưa có sự thống nhất của các thành viên trong hộ, chỉ có ông S ký tên là chưa đúng quy định pháp luật về hình thức của hợp đồng.

- Về nội dung: “Giấy ủy quyền” ngày 01/02/2005 không thể hiện đầy đủ nội dung của một giao dịch dân sự về chuyển nhượng đất, mà chỉ là ủy quyền cho ông T được quyền sử dụng đất diện tích 29.687m². Trong “Giấy ủy quyền” này cũng không có ghi nhận giá chuyển nhượng đất cụ thể là bao nhiêu, trong khi đó lại tồn tại một biên nhận độc lập đề ngày 01/02/2005, ghi nhận việc ông S có nhận của ông T 140 chỉ vàng 24K loại 9999. Theo kết luận giám định số 225/C09-P5 ngày 02/11/2018 của V1 kết luận chữ ký trong biên nhận lập ngày 01/02/2005 là của ông Lê Minh S. Nhưng trên thực tế thì cả hai thửa đất này, ông T không có trực tiếp canh tác đất; thửa 111 do ông Q canh tác, còn thửa 402 ông S cũng đã chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn P và vợ chồng ông P, bà Hoa L là người trực tiếp canh tác đất từ năm 1993. Quá trình giải quyết vụ án, các con của ông S cũng không thừa nhận việc ông S có chuyển nhượng phần đất này cho ông T.

Do đó, việc xác lập “Giấy ủy quyền” ngày 01/02/2005 giữa ông Lê Minh T với ông Lê Minh S là chưa đúng quy định pháp luật của một giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu công nhận “Giấy ủy quyền” ngày 01/02/2005 là giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tuyên bố “Giấy ủy quyền” ngày 01/02/2005 là giao dịch dân sự vô hiệu là có căn cứ.

Việc nguyên đơn cho rằng hợp đồng chuyển nhượng thửa 402 cũng là giấy tay nhưng được công nhận còn giấy tay chuyển nhượng thửa 111 lại bị đề nghị vô hiệu. Hội đồng xét xử nhận thấy: ngày 04/01/1994, ông Lê Minh S có làm hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông Huỳnh Văn P, hợp đồng được Ủy ban nhân dân xã V (nay là thị trấn V) xác nhận, diện tích chuyển nhượng được ghi trong hợp đồng là 7.400m² với giá chuyển nhượng là 14 chỉ 09 phân vàng 24K. Hai bên đã thực hiện việc giao vàng và nhận đất canh tác. Ông P và bà Hoa L đã canh tác phần đất này từ năm 1994; đến năm 2013, ông S lại làm hợp đồng tặng cho thửa 402 cho ông T. Ngày 03/6/2013, ông Lê Minh T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01448 nhưng ông T không có trực tiếp canh tác phần đất này. Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T là không đúng đối tượng sử dụng đất. Trong khi đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 01/4/1994 giữa ông S với ông P được xác lập theo đúng quy định pháp luật, hợp đồng đã được công chứng, chứng thực nhưng chưa sang tên quyền sử dụng đất; bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện xong nghĩa vụ giao vàng cho người chuyển nhượng và bên chuyển nhượng cũng đã giao đất cho người nhận chuyển nhượng canh tác từ năm 1994 đến nay nên giao dịch được công nhận hiệu lực. Điều này phù hợp với Án lệ số 55 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 07 tháng 9 năm 2022. Nên Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng thửa 402 là có căn cứ.

Về giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, buộc các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Phần đất hiện nay ông S đã chuyển quyền sử dụng cho ông Q, ông T không quản lý phần nào. Riêng ông S, có trách nhiệm hoàn trả cho ông T 140 chỉ vàng 24K loại 9999. Do không chấp nhận “Giấy ủy quyền” ngày 01/02/2005 là giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tuyên bố “Giấy ủy quyền” ngày 01/02/2005 là giao dịch dân sự vô hiệu nên không xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu là có căn cứ.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông T và bà T1 phải chịu nhưng là người cao tuổi nên được miễn nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Minh T, bà Trần Thanh T1;

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 60/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Áp dụng:

  • Điều 129, 137 Bộ luật dân sự năm 2005;
  • Điều 136 Luật đất đai năm 2003;
  • Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 08 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Án lệ số 55/2022/AL ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 thán 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Minh T, bà Trần Thanh T1.
  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi bị đơn trả số tiền 141.630.600 đồng (một trăm bốn mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi nghìn sáu trăm đồng).
  3. Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Hồ Văn T4 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Lê Minh Q.
  4. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Văn P và bà Lê Thị Hoa L.
  5. Tuyên bố “Giấy ủy quyền” lập ngày 01/02/2005 giữa ông Lê Minh S với ông Lê Minh T là giao dịch dân sự vô hiệu.
  6. Buộc ông Lê Minh S phải hoàn trả cho ông Lê Minh T 140 (một trăm bốn mươi) chỉ vàng 24K loại 9999.
  7. Ổn định cho ông Lê Minh Q được quyền sử dụng đất diện tích 24.653,4m² tại thửa 111, loại đất trồng cây hàng năm khác, tờ bản đồ số 6; tọa lạc tại ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vị trí, diện tích, kích thước theo Mảnh trích đo địa chính số 510-2015 ngày 28/8/2015 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (nay là Văn phòng đăng ký đất đai huyện L).
  8. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 01/4/1994 giữa ông Lê Minh S với ông Huỳnh Văn P.
  9. Công nhận cho ông Huỳnh Văn P và bà Lê Thị Hoa L được quyền sử dụng đất diện tích 5.923.4m² tại một phần thửa 402, một phần thửa 645 loại đất trồng lúa, tờ bản đồ số 6; tọa lạc tại ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vị trí, diện tích, kích thước theo Mảnh trích đo địa chính số 1527-2023 ngày 21/8/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ.
  10. Ông Huỳnh Văn P và bà Lê Thị Hoa L được sở hữu số tiền bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất là 220.203.720 đồng (hai trăm hai mươi triệu hai trăm lẻ ba nghìn bảy trăm hai mươi đồng).
  11. Đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc chỉnh lý biến động, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhận tiền bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất theo quy định pháp luật.
  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Ông Lê Minh T, bà Trần Thanh T1 là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Ông T và bà T1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001621 ngày 06 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang.
    • Ông Huỳnh Văn P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001887 lập ngày 21 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
    • Bà Lê Thị Hoa L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006659 lập ngày 10 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
    • Ông Hồ Văn T4 được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006077 lập ngày 11 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
  2. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Minh T và bà Trần Thanh T1 phải chịu 11.500.000 đồng đã nộp xong. Ông Huỳnh Văn P, bà Lê Thị Hoa L phải chịu 8.689.645 đồng, đã nộp xong.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Lê Minh T và bà Trần Thanh T1 phải chịu nhưng là người cao tuổi nên được miễn nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2024.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND huyện Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Long Mỹ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án – VP – Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thanh Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/DS-PT ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 119/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger