|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 119/2024/HSST; Ngày 14 – 11 – 2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Minh Tân và ông Trần Thế Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoàng A - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu Trại Tạm giam Công an tỉnh T, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 119/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 31/10/2024, đối với bị cáo:
BÙI VĂN T; Sinh ngày 29/3/1990 tại huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm K, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Thẻ CCCD số: [...]; Cấp ngày 28/9/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không: Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Bùi Văn K (đã chết) và bà Bùi Thị P, sinh năm 1964; vợ Đàm Thị X, sinh năm 1991; có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020.
- Tiền án: Bản án số 12 ngày 15/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, xử phạt Bùi Văn T 20 tháng tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong bản án ngày 19/6/2023.
- Nhân thân: Bản án số 09 ngày 28/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, xử phạt Bùi Văn T 02 năm tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong bản án ngày 29/9/2018;
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt
- Bị hại: Ma Công T1, sinh năm 1984. Trú tại thôn C, xã B, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người làm chứng: Bùi Văn L. Vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/7/2024, Bùi Văn T, trú tại xóm K, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình, đi xe ô tô khách đến công trình xây dựng bệnh viện đa khoa tỉnh T thuộc thôn A, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang để nhờ bạn là Ma Công T1 đang làm công nhân tại công trình, mục đích nhờ xin vào làm việc cùng T1. Qua T1 giới thiệu T đã được nhận vào làm công nhân trong khu vực xây dựng và ở cùng lán với T1.
Khoảng 11 giờ ngày 27/7/2024, T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 22L1-029.36 của T1 để đi mua nước uống, được T1 đồng ý, giao chìa khóa và xe cho T mượn đi đến quán T2 ở gần đó để mua nước rồi điều khiển xe quay về lán. Trên đường đi về, T nảy sinh ý định mang xe mô tô của T1 đi bán lấy tiền mua ma túy để sử dụng nhưng vì T chỉ mượn xe để đi mua nước nên T không lấy xe đi luôn vì sợ bị phát hiện, T giả vờ quay lại lán, để xe ở ngoài cửa lán rồi cầm chai nước đi vào, T nói dối T1 là mượn xe để đi chơi, hẹn đến chiều sẽ trả lại, khi được T1 đồng ý T đã điều khiển xe đi tìm cửa hàng mua bán xe máy để đổi các bộ phận xe mô tô bán lấy tiền. Trên đường từ Tuyên Quang về Hòa Bình, T đã đổi các bộ phận của xe (gồm 02 gương chiếu hậu, bộ yếm xe, 02 bánh xe, giảm xóc, ốp đèn pha, yên xe) Bán cho một người đàn ông nhưng không xác định được tên, địa chỉ cụ thể để lấy số tiền 1.500.000 đồng. Số tiền này T sử dụng mua ma túy và chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi đổi bán các bộ phận của xe, T tiếp tục điều khiển xe đi đến nhà anh họ của T là anh Bùi Văn L, địa chỉ: xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình và ở lại đó. Đến chiều ngày 30/7/2024, T gửi xe tại nhà anh L (T nói với L đây là xe của T mua) rồi đi xe buýt về nhà.
Ngày 31/7/2024, sau khi thấy T không đem xe về trả, anh T1 tố giác hành vi của T tới Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đề nghị giải quyết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 28 ngày 01/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: xe mô tô biển số 22L1-029.36 trị giá 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng).
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại cùng nhất trí với Kết luận định giá tài sản.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên, Cáo trạng số 121/ CT-VKSTP ngày 15/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T, phạm tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; khoản 1 Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 01 (một) năm đến 01 ( Một) năm 06 ( sáu) tháng tù; Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Do bị cáo là người không có công việc làm ổn định, gia đình bị cáo là hộ cận nghèo của
2
xã, sống ở nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô biển số 22L1-029.36; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Ma Công T1, 01 giấy biên nhận đề ngày 09/11/2023 của Cửa hàng X1 (các giấy tờ T lấy trong cốp xe). Sau khi xác minh làm rõ chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Ma Công T1, xét không cần thiết phải tạm giữ thêm ngày 27/9/2024 cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cùng các giấy tờ liên quan cho bị hại Ma Công T1. Vì vậy, Viện kiểm sát không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vật chứng.
- Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo T đã tự ý bán, đổi các bộ phận của xe mô tô nên khi nhận lại tài sản bị hại T1 phải chi phí để sửa chữa khắc phục mất 10.000.000đ trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà bị hại yêu cầu buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 10.00.000 đồng. Bị cáo T nhất trí đối với yêu cầu của bị hại nhưng chưa có tiền để bồi thường. Vì vậy: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000đ theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Do Bị cáo Bùi Văn T là người dân tộc thiểu số sống ở nơi có điều kiện kinh tế khó khăn đồng thời gia đình bị cáo là hộ cận nghèo của xã nhưng tại phiên toà bị cáo không có đơn xin miễn án phí và cũng không đề nghị Hội đồng xét xử xét miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo. Vì vậy: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Bùi Văn T trình bày: Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bị cáo cũng rất hối hận vì thiếu suy nghĩ nên nhất thời phạm tội. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, bị cáo hứa sẽ tuyệt đối rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
- Bị hại Ma Công T1 trình bày: Bị cáo T đã lợi dụng sự tin tưởng của bị hại để chiếm đoạt tài sản gây thiệt hại số tiền là 10.000.000đ đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại, ngoài ra do bị cáo tuổi đời còn trẻ, thiếu suy nghĩ, gia đình bị cáo rất khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt. Căn cứ vào các 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.
[3].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn T khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Đơn trình báo mất xe của bị hại, Biên bản xử lý vụ việc; Biên bản tạm giữ
3
đồ vật, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 27/7/2024 tại thôn A, xã L, thành phố T, bị cáo Bùi Văn T đã lợi dụng sự tin tưởng của bị hại T1 để mượn xe mô tô biển số 22L1-029.36 trị giá 16.000.000 đồng mang đi tháo dỡ thay đổi bán phụ tùng của xe để lấy 1.500.000đ chi tiêu cá nhân và chiếm đoạt không trả lại xe cho bị hại, sau khi bị hại làm đơn tố giác thì Công an thành phố T đã tiến hành điều tra bắt giữ bị cáo và thu giữ lại tài sản do bị cáo phạm tội mà có để trả lại cho bị hại, đồng thời khi nhận lại xe bị hại đã phải sửa chữa khắc phục hết 10.000.000đ đến ngày Toà án xét xử bị cáo chưa bồi thường cho bị hại.
[4]. Tại Điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự quy định: Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
[5]. Đối chiếu với Điều luật và hành vi nêu trên của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; căn cứ vào giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[6]. Xét yếu tố cấu thành của tội phạm: Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên bị cáo phải nhận thức rõ hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã cố ý lợi dụng sự tin tưởng của bị hại T1 giao xe máy cho bị cáo mượn, sau đó bị cáo T đã nảy sinh mục đích mang xe đi thay đổi phụ tùng của xe bán lấy 1.500.000đ để mua ma tuý sử dụng và chi tiêu hết không trả lại tài sản cho bị hại, xét thấy hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội nơi bị cáo gây án, do đó cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc bị cáo phải chịu một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác đang diễn ra phức tạp trong tình hình hiện nay.
[7]. Xét về nhân thân và tính chất, mức độ của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử - xét thấy: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo T là người nghiện ma tuý có nhân thân xấu và có 01 tiền án, thể hiện tại Bản án số 09 ngày 28/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, xử phạt Bùi Văn T 02 năm tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 29/9/2018; Bản án số 12 ngày 15/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, xử phạt Bùi Văn T 20 tháng tù, về tội: Tàng trữ trái phép
4
chất ma túy, ngày 19/6/2023 bị cáo chấp hành xong bản án nhưng trong thời gian chưa được xoá án tích, ngày 27/7/2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để lấy tiền mua ma tuý sử dụng cho bản thân như đã nêu trên thể hiện tính coi thường pháp luật nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên khi hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo bị phát hiện cơ quan điều tra đã kịp thời thu giữ tài sản để trả lại bị hại ngay, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bố của bị cáo là Bùi Văn K được tặng Huân chương chiến công hạng ba, bà nội của bị cáo là Bùi Thị D được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Vì vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[8].Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Xét thấy bị cáo là người không có công việc làm ổn định, sống ở xã khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo của xã, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9].Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo T đã tự ý thay đổi bán các bộ phận của xe máy nên khi nhận lại tài sản anh Ma Công T1 phải chi phí để sửa chữa xe mất 10.000.000₫ trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà anh T1 yêu cầu buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 10.00.000 đồng. Bị cáo T nhất trí đối với yêu cầu của bị hại nhưng bị cáo còn phải chịu trách nhiệm hình sự nên chưa có tiền để bồi thường ngay. Hội đồng xét xử, xét thấy yêu cầu của bị hại là đúng với chi phí thực tế để sửa chữa chiếc xe máy do bị cáo chiếm đoạt và gây ra, đồng thời bị cáo cũng nhất trí bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Bùi Văn T phải bồi thường cho bị hại Ma Công T1 10.000.000đ (Mười triệu đồng) tiền sửa chữa xe máy do bị cáo làm hư hỏng trong thời gian chiếm đoạt tài sản của bị hại T1.
[10].Về vật chứng: Quá trình điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô biển số 22L1-029.36; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Ma Công T1, 01 giấy biên nhận đề ngày 09/11/2023 của Cửa hàng X1. Sau khi xác minh làm rõ chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị hại, xét không cần thiết phải tạm giữ thêm ngày 27/9/2024 cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cùng các giấy tờ liên quan cho bị hại T1 là có căn cứ phù hợp với điều kiện thực tế, đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11]. Về án phí: Bị cáo T là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo của xã nhưng tại phiên toà Hội đồng xét xử đã giải thích cho bị cáo biết để thực hiện quyền làm đơn xin miễn án phí, nhưng bị cáo không làm đơn xin miễn án phí theo quy định của pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử không có đủ cơ sở để xét miễn án phí cho bị cáo. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch.
[12]. Trong vụ án còn có tình tiết:
5
- Đối với anh Bùi Văn L khi cho T gửi xe mô tô biển số 22L1-029.36 ở nhà mình, L không biết chiếc xe máy là tài sản do T phạm tội mà có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với người đàn ông đã mua bán, đổi các bộ phận của xe mô tô biển số 22L1-029.36 của Bùi Văn T, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không có cơ sở để giải quyết.
- Ngày 01/8/2024, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể của Bùi Văn T, kết quả dương tính (+) có chất ma túy trong cơ thể. T khai nhận ngày 27/7/2024 và 30/7/2024, T đã thay thế phụ tùng xe máy chiếm đoạt của bị hại để bán được 1.500.000₫ lấy tiền mua 02 gói ma túy với giá 500.000 đồng/1 gói của 1 người phụ nữ tại khu vực gầm cầu “Hòa Bình 1” thuộc thành phố H, tỉnh Hòa Bình, để tự sử dụng hết cho bản thân.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Văn T, ngày 07/9/2024, Trưởng Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 002198 đối với T, hình thức phạt tiền 1.750.000 đồng là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
- Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo T, do không xác định được tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.
[13]. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T, phạm tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; khoản 1 Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 01 ( một) năm 05 ( năm ) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 02/8/2024.
3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.
- Buộc bị cáo Bùi Văn T phải bồi thường số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) cho bị hại Ma Công T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: thôn C, xã B, huyện L, tỉnh Tuyên Quang.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại Ma Công T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo T chưa thi hành xong khoản tiền phải bồi thường nói trên cho bị hại, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
4. Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000₫ (Năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự có giá ngạch.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Báo cho bị cáo và bị hại biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6
|
Nơi nhận:
|
T.M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà Vũ Thu Hiền |
7
Bản án số 119/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 119/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BÙI VĂN TÙNG PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
