|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/HS-ST
Ngày: 10 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và bà Nguyễn Thị Xuân.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện T, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Dương Ngọc T – sinh năm: 1983, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ B, khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm tóc; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Quốc C – 1950 và bà Bùi Thị L (đã chết). Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/7/2013, bị Ủy ban nhân dân quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc với thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bị tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay. (có mặt)
2. Nguyễn Văn Châu G – sinh năm: 1982, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ B, khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C1 – 1960 và bà Lê Thị Hoàng O – 1958; Vợ: Nguyễn Thị Tuyết M – 1992; Con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Hiện đang tại ngoại. (có mặt)
- Bị hại: Bà Phạm Thị Kim C2 – 1983. (có mặt)
Địa chỉ: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Viết B – sinh năm: 1972. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu B, ấp G, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
+ Chị Phạm Thị Thanh T1 – sinh năm: 1986. (có mặt)
+ Cháu Làu Tuấn K – sinh năm: 2013. Đại diện hợp pháp là chị Phạm Thị Thanh T1. (có mặt)
Cùng địa chỉ: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
+ Ông Trần Mai T2 – sinh năm: 1982. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
+ Ông Võ Chí H – sinh năm: 1971. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Ngọc T là đối tượng nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định.
Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 03/5/2024, T đi bộ ngang qua nhà bà Phạm Thị Kim C2, địa chỉ: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai và phát hiện một xe đạp thể thao để trong nhà, cửa không khóa. Thái lén lút đột nhập vào nhà bà C2 và dắt xe đạp ra khỏi nhà. Sau đó, T điều khiển xe đạp đi tiêu thụ.
Khi đi ngang qua Quán C3 thuộc khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai do ông Trần Mai T2 làm chủ thì gặp Nguyễn Văn Châu G (bạn T) đang ngồi uống cà phê. G có hỏi T “xe có bán không?”, T không trả lời và tiếp tục điều khiển xe đạp chạy về hướng Lâm Đồng. Tuy nhiên, khi đi được một đoạn thì T quay trở lại gặp G thỏa thuận vấn đề bán xe đạp và thống nhất bán chiếc xe đạp nêu trên với giá 500.000đ.
Sau khi mua được xe đạp, G điều khiển về nhà và tìm hiểu thông tin thấy giá trị tài sản thực và mua bán có sự chênh lệch lớn nên có nghi ngờ về nguồn gốc xe đạp đã mua. Tuy nhiên, vì vụ lợi bản thân G chụp hình xe đạp và đăng thông tin trên Facebook để bán nếu ai có nhu cầu muốn mua. Thời điểm này, ông Phạm Viết B thấy thông tin G đăng tải bán xe đạp nên hai bên thỏa thuận mua bán và thống nhất bán với giá 2.500.000đ. Sau đó, G liên hệ với ông Võ Chí H (hành nghề xe ôm) thuê ông H chở xe đạp đi giao cho ông B.
Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, chị Phạm Thị Thanh T1 (em ruột bà C2) và cháu Làu Thế K1 (con ruột chị T1) đến hỏi G về chiếc xe đạp của bà C2 do T lấy trộm vào buổi sáng. Lúc này G đã biết rõ chiếc xe đạp mua của Dương Ngọc T là tài sản do phạm tội mà có nhưng vì vụ lợi bản thân, G nói không gặp và không có mua xe đạp của T. Mục đích G nói nêu trên nhằm đánh lạc hướng gia đình bị hại để thực hiện trót lọt việc bán xe đạp cho ông Phạm Viết B để thu lợi cho bản thân. Khi bà T1 đi về, G liên hệ với ông B và giảm giá thêm 300.000đ để ông B mua xe đạp trên với số tiền 2.200.000đ, thu lợi số tiền 1.700.000đ.
Ngày 16/5/2024, bà Phạm Thị Kim C2 trình báo Công an thị trấn T về sự việc bị mất trộm chiếc xe đạp. Tại cơ quan điều tra, Dương Ngọc T và Nguyễn Văn Châu G đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đồng thời, Nguyễn Văn Châu G đã tự nguyện liên hệ với ông Phạm Viết B để mua lại chiếc xe đạp do Dương Ngọc T trộm cắp và tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an.
Vật chứng thu giữ: 01 xe đạp màu trắng, chắn bùn màu đen, khung xe có ghi chữ “STRONGMAN”, đã qua sử dụng.
Trị giá tài sản thiệt hại: Tại Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe đạp thể thao, sườn ngang màu trắng – đen, hiệu Strongman M3, đã qua sử dụng, có giá trị 2.170.000đ.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Dương Ngọc T và Nguyễn Văn Châu G đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.
Bản cáo trạng số 113/CT-VKSTP-ĐN ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Dương Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Văn Châu G về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T; khoản 1 Điều 323, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo G. Đề xuất mức án đối với các bị cáo, cụ thể:
- - Dương Ngọc T từ 10 tháng đến 12 tháng tù.
- - Nguyễn Văn Châu G từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị Kim C2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về các biện pháp tư pháp: Đề nghị buộc bị cáo Dương Ngọc T nộp lại số tiền 500.000đ là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội.
Về các vấn đề khác: Đối với ông Phạm Viết B và ông Võ Chí H: Khi ông B mua xe đạp từ bị cáo G và ông H chở xe đạp đi giao cho ông B thì không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo Dương Ngọc T và Nguyễn Văn Châu G đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:
Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 03/5/2024, tại khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Dương Ngọc T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe đạp thể thao, sườn ngang màu trắng – đen, hiệu Strongman M3, đã qua sử dụng của bà Phạm Thị Kim C2, có giá trị 2.170.000đ.
Sau khi trộm cắp xe đạp trên, Dương Ngọc T đã bán xe đạp cho Nguyễn Văn Châu G được số tiền 500.000đ. Nguyễn Văn Châu G qua tìm hiểu giá trị chiếc xe đạp và qua thông tin từ chị Phạm Thị Thanh T1 (em ruột bà C2) cung cấp thì biết rõ được tài sản trên là do Dương Ngọc T phạm tội mà có nhưng vì vụ lợi bản thân, G đã bán xe đạp cho ông Phạm Viết B và thu lợi số tiền 1.700.000đ.
Hành vi do các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo T trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo G trực tiếp xâm hại trật tự quản lý Nhà nước đối với tài sản do phạm tội mà có. Các bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo Dương Ngọc T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn Châu G đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người đã trưởng thành và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo G tự nguyện khắc phục hậu quả là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu. Bị cáo G chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
[7]. Về hình phạt:
[7.1]. Về hình phạt chính:
Đối với bị cáo T: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo G: Xét tính chất và mức độ tham gia phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như việc bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2 và Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng chế định án treo, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú giám sát, giáo dục.
[7.2]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản thiệt hại và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[9]. Về các biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 500.000đ bị cáo Dương Ngọc T thu lợi từ việc trộm cắp tài sản. Xét đây khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo T phải nộp lại sung ngân sách Nhà nước.
[10]. Về các vấn đề khác: Khi ông Phạm Viết B mua xe đạp từ Nguyễn Văn Châu G và ông Võ Chí H được G thuê chở xe đạp đi giao cho ông B thì ông B và ông H không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.
[11]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì các bị cáo Dương Ngọc T và Nguyễn Văn Châu G, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[12]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T;
- - Khoản 1 Điều 323, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều 2 và Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo G;
- - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Nguyễn Văn Châu G phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Dương Ngọc T 08 (tám) tháng tù.
- Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2024.
- - Bị cáo Nguyễn Văn Châu G 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Châu G cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự, Thông tư số 64/2019/TT-BCA ngày 28/11/2019 của Bộ C4.
Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án Hình sự từ 02 lần trở lên.
Về án phí: Buộc các bị cáo Dương Ngọc T và Nguyễn Văn Châu G, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Lợi |
Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (hình sự)
- Số bản án: 119/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
