TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/HS-PT
Ngày: 10/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy.
Các Thẩm phán: Ông Võ Thanh Bình;
Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Phương Thảo, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 106/TLPT-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn N, sinh ngày 16/8/1971, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; số CMND: [...]; nghề nghiệp: nguyên công chức xã; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Nguyễn Văn C và con bà: Lê Thị D; vợ: Nguyễn Thị D1; con: có 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 14/02/2023, ngày 27/7/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án có 05 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn N là công chức địa chính của Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang không được giao nhiệm vụ chứng thực giấy ủy quyền, quản lý con dấu của UBND xã, không được phân công tiếp nhận hồ sơ và không có thẩm quyền ký chứng thực các văn bản ủy quyền. Tháng 3/2022, Nguyễn Văn N nhận thấy nhiều người dân đến nộp hồ sơ đất đai nhưng muốn thực hiện thủ tục được nhanh nên Nguyễn Văn N đã gợi ý các cá nhân này ủy quyền cho Nguyễn Hoài Â, Dương Ngọc Minh T (là con ruột và con dâu của Nguyễn Văn N) để hưởng tiền công. Do không được giao nhiệm vụ chứng thực vì vậy Nguyễn Văn N đã làm giả giấy tờ chứng thực của UBND xã L đối với các Giấy ủy quyền với phương thức như sau: Nguyễn Văn N ký giả chữ ký của Đặng Minh T1 là cán bộ Tư pháp ở phần “Người tiếp nhận hồ sơ”, ký giả chữ ký của ông Lê Quang H - Chủ tịch UBND xã L; ghi khống số chứng thực và lợi dụng lúc Đặng Minh N1 là cán bộ văn thư đang bận công tác nên Nguyễn Văn N nói với N1: “Gấp quá để anh đóng dùm luôn!” rồi Nguyễn Văn N lấy con dấu tự đóng vào các giấy làm giả này.
Theo kết quả điều tra, từ tháng 3/2022 đến tháng 8/2022, Nguyễn Văn N làm giả 15 tài liệu là tờ chứng thực nội dung ủy quyền gồm: Tờ chứng thực số 130, 235 có cùng ngày 06/6/2022; số 132, 150 có cùng ngày 22/3/2022; số 230 ngày 29/3/2022, số 358 ngày 16/6/2022; số 364, 367, 369 có cùng ngày 16/7/2022; 02 tờ có cùng số 377 ngày 16/7/2022; số 389 ngày 16/8/2022 và 03 tờ chứng thực có cùng số 368 ngày 16/6/2022.
Tại Bản kết luận giám định số 1358/KL-KTHS(Đ2), số 201/KL-KTHS(Đ2) ngày 08/02/2023 và ngày 24/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 15 mẫu gửi có chữ ký ông Lê Quang H giám định không phải do ông Lê Quang H - Chủ tịch UBND xã L ký ra; 10 mẫu gửi có chữ ký ông Đặng Minh T1 giám định không phải do ông Đặng Minh T1 - Công chức Tư pháp, Hộ tịch UBND xã L ký ra.
Ngày 14/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét nơi làm việc của Nguyễn Văn N tại UBND xã L đã tạm giữ đồ vật tài liệu gồm: 01 CPU máy tính vỏ màu đen nhãn hiệu DELL; 01 “SỐ LƯU CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH” quyển số 01-SCT/HĐ,GD mở năm 2022. Có đánh số trang liên tục từ 01 đến 25, không có số trang 26, tiếp theo đánh số trang liên tục từ 27 đến 99 và 01 “SỐ LƯU CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH” quyển số 02-SCT/HĐ,GD mở ngày 01 tháng 7 năm 2022, có đánh số trang liên tục từ 100 đến 148, tiếp theo đánh số trang liên tục từ 148 đến 181. Kết quả trích xuất dữ liệu máy tính, kiểm tra số tài liệu đã thu giữ xác định không có thông tin liên quan hành vi phạm tội nên đã trả lại số đồ vật, tài liệu trên cho Ủy ban nhân dân xã L.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khám xét nơi ở của Nguyễn Văn N tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang thu giữ đồ vật gồm: 01 CPU máy tính vỏ màu đen nhãn hiệu HP và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, sim số 03666103xxx (của Nguyễn Hoài Â). Kết quả trích xuất dữ liệu máy tính, kiểm tra dữ liệu điện thoại xác định không có thông tin liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn N nên đã trả lại cho Nguyễn Hoài Â.
Tạm giữ của Nguyễn Văn N 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh. Kết quả trích xuất kiểm tra dữ liệu điện thoại xác định không có thông tin liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả cho Nguyễn Văn N.
Đối với Nguyễn Hoài Â, Dương Ngọc Minh T không bàn bạc, giúp sức Nguyễn Văn N làm giả 15 tài liệu trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không xử lý hình sự Nguyễn Hoài Â, Dương Ngọc Minh T là có căn cứ
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình Sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 14/02/2023 đến ngày 27/7/2023
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, trách nhiệm dân sự và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- * Ngày 22 tháng 4 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo với nội dung: xin được hưởng án treo.
- * Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn N thay đổi kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- * Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Về tố tụng, bị cáo có đơn kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về tội danh, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là có căn cứ pháp luật. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
- * Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung kháng cáo:
Từ tháng 3/2022 đến tháng 8/2022, bị cáo đã ký giả chữ ký của ông Đặng Minh T1 là cán bộ tư pháp ở phần “Người tiếp nhận hồ sơ” và ký giả chữ ký của ông Lê Quang H là Chủ tịch của Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ghi khống số chứng thực, lợi dụng lúc cán bộ văn thư bận công việc đã tự ý lấy con dấu đóng làm giả 15 tài liệu là tờ chứng thực nội dung ủy quyền. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến uy tín của cơ quan Nhà nước. Bị cáo nhận thức được hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng vì xem thường pháp luật mà bất chấp thực hiện làm giả nhiều tài liệu. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo chưa gây thiệt hại về vật chất, đúng đối tượng cần ủy quyền, bản thân không vụ lợi, bị cáo có thời gian dài công tác có nhiều thành tích được cơ quan có thẩm quyền tặng nhiều giấy khen, bản thân hiện mắc bệnh mãn tính gây giảm sút sức khỏe cần được thường xuyên thăm khám theo chỉ định của bác sĩ. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù là nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Lý do sửa bản án sơ thẩm phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm nên Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi trong trường hợp này.
[3]. Các phần liên quan đến kháng cáo cần xem xét: không có.
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là có phần nghiêm khắc như nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Bị cáo kháng cáo về hình phạt được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- + Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N.
- + Sửa bản án sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang về hình phạt;
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, trừ thời gian tạm giam từ ngày 14/02/2023 đến ngày 27/7/2023.
- - Về án phí: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- - Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- - Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Huy |
Bản án số 119/2024/HS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 119/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ tháng 3/2022 đến tháng 8/2022, bị cáo đã ký giả chữ ký của ông Đặng Minh T1 là cán bộ tư pháp ở phần “Người tiếp nhận hồ sơ” và ký giả chữ ký của ông Lê Quang H là Chủ tịch của Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ghi khống số chứng thực, lợi dụng lúc cán bộ văn thư bận công việc đã tự ý lấy con dấu đóng làm giả 15 tài liệu là tờ chứng thực nội dung ủy quyền
