Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HS-PT.

Ngày: 10 - 7 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Nguyễn Gia Lương.
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Hải Vinh.
Bà Trần Thị Hà.

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 10/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; tên gọi khác: Không;

Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang;

Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;

Con ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1954 (đã chết);

Con bà Trịnh Thị V, sinh năm 1957;

Gia đình có 4 chị em, bị cáo là thứ hai;

Vợ: Nguyễn Thị V1, sinh năm 1982 (đã ly hôn);

Có 3 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2015;

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2018/HS-ST ngày 30/7/2018, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 12/5/2023;

Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 34/2006/HS-ST ngày 17/4/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích);

Bản án hình sự phúc thẩm số 08/2012/HS-PT ngày 06/01/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” (đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích);

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên tòa).

Trong vụ án còn có 09 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/7/2018, bị cáo Nguyễn Văn T bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/5/2023, T chấp hành xong án phạt tù và trở về địa phương sinh sống. T biết Nhà nước có chính sách cho những người đã chấp hành xong án phạt tù được vay vốn để phát triển kinh tế nên ngày 05/12/2023 T làm đơn gửi tổ vay vốn của Hội liên hiệp phụ nữ xã Đ do bà Trịnh Thị C làm tổ trưởng để Ủy ban nhân dân xã Đ (sau đây viết tắt là UBND xã Đ) làm thủ tục xét duyệt và đề nghị Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh B cho vay vốn với mục đích để chăn nuôi. Ngày 26/12/2023, UBND xã Đ phân công bà Khổng Minh V2 (Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ xã Đ) cùng bà Trịnh Thị C và anh Phạm Văn H (cán bộ Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh B) đến thẩm định tại nhà T để xét duyệt trước khi cho vay vốn. Sau khi thẩm định, anh H thông báo cho T biết T thuộc diện được vay vốn của Nhà nước để phát triển kinh tế đồng thời giải thích về quy trình, thủ tục và điều kiện để được vay vốn. Ngày 04/01/2024, UBND xã Đ tổ chức cuộc họp tại nhà văn hóa thôn C, xã Đ để bình xét, kết nạp Nguyễn Văn T là thành viên mới của tổ vay vốn. Tuy nhiên, do chỉ có 11/56 thành viên có mặt nên cuộc họp không thực hiện được.

Buổi chiều ngày 14/01/2024, UBND xã Đ tiếp tục tổ chức họp tại nhà văn hóa thôn C, xã Đ để làm thủ tục bình xét và kết nạp Nguyễn Văn T vào thành viên tổ vay vốn. Thành phần tham dự gồm 56 thành viên do bà Trịnh Thị C là tổ trưởng, bà Nguyễn Thị N là tổ phó. Ngoài ra, có mời ông Trịnh Văn D là Phó Chủ tịch UBND xã Đ; bà Khổng Minh V2 là Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ xã; ông Tạ Bá Y là trưởng thôn C1; anh Phạm Văn H là cán bộ Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh B tham dự. Do các thành viên trong tổ vay vốn không có mặt đầy đủ để dự họp nên ông Trịnh Văn D đã chỉ đạo những người có mặt chia làm 02 tổ đi đến tận nhà các thành viên trong tổ lấy phiếu xin ý kiến về việc kết nạp thành viên mới. Trong lúc mọi người đi lấy phiếu xin ý kiến thì anh H và chị V2 chờ ở nhà văn hóa. Khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, T đi đến nhà văn hóa thôn, do cuộc họp lần trước không

thực hiện được nên T cho rằng chị V2 gây khó khăn, Trưởng có dùng điện thoại di động nhắn tin đe dọa chị V2 nên chị V2 không trả lời. Tại N1, T có lời nói trách móc, đồng thời hỏi chị V2 và anh H về nội dung liên quan đến việc vay vốn. Sau đó, T tiếp tục có những lời nói to tiếng, đe dọa chị V2 về việc không tạo điều kiện cho T vay vốn.

Một lúc sau, tổ kiểm phiếu đi về và tiến hành kiểm phiếu. Kết quả có 44 thành viên bỏ phiếu thì có 33 thành viên không đồng ý kết nạp nên T không đủ điều kiện kết nạp và không được bình xét cho vay vốn. T có thắc mắc với anh Tạ Bá Y là trưởng thôn C1 và tổ vay vốn về lý do không được vay thì mọi người đã giải thích. Chị V2 đi ra cửa nhà văn hóa lấy xe máy đi về thì T đi theo. Khi chị V2 đang ngồi trên xe thì T đi đến chặn đầu xe không cho chị V2 đi về. T chỉ tay phải vào mặt chị V2 và chửi đe dọa giết, chị V2 sợ nên không dám nói gì. Thấy vậy, anh Phạm Văn H cầm điện thoại di động quay video ghi lại diễn biến sự việc. T yêu cầu anh H không quay và xóa video nhưng anh H không đồng ý. T lao về phía anh H dùng tay túm cổ áo du đẩy và giật điện thoại nhưng không lấy được, hai người tiếp tục giằng co du đẩy nhau. T dùng đầu đập vào mặt anh H 03 lần; lên gối vào háng anh H nhưng anh H tránh được. Thấy vậy, anh Y cùng mọi người đã can ngăn kéo T ra nên sự việc kết thúc.

Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, T đi đến trụ sở Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh B và đi lên tầng 2 tìm gặp ông Hà Văn Q là Giám đốc Ngân hàng đề nghị giải thích lý do T không được vay tiền và đã được giải thích thoả đáng. Sau đó, T đi xuống quầy giao dịch ở tầng 1 là nơi anh Phạm Văn H đang làm việc. T chỉ tay về phía anh H và có những lời nói mang tính đe dọa, yêu cầu xoá video nhưng anh H không nói gì nên T đi về. Buổi chiều 15/01/2024, T tiếp tục đến quầy giao dịch của Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh B hỏi về dư nợ của vợ T tại ngân hàng và tiếp tục tìm gặp anh H. Thấy T lại đến nên anh H sợ và trốn vào trong để tránh mặt. T không tìm thấy anh H nên nói “tao sẽ đi theo tìm địa chỉ”. Sau đó, T đi ra và đứng ở trước cổng Ngân hàng để đợi gặp anh H. Do vậy, lãnh đạo Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh B đã báo cho Công an thành phố B đến giải quyết và yêu cầu T về trụ sở để làm việc.

Sau khi sự việc xảy ra, chính quyền thôn C, xã Đ, Công an xã Đ; UBND xã Đ; Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh B đã có văn bản đề nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B xử lý Nguyễn Văn T về hành vi gây rối trật tự công cộng vì gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương và ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng.

Cơ quan điều tra đã thu giữ và trưng cầu giám định 01 file video do anh Phạm Văn H giao nộp và 06 file video trích xuất tại trụ sở Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh B ghi lại nội dung diễn biến sự việc. Kết luận giám định số 537/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: “1. Không phát hiện dấu

vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video lưu trữ trong đĩa DVD-R và đĩa CD-R gửi giám định sau: File video có tên "ch02 20240115083027.mp4", dung lượng: 4,43MB, thời lượng 00 phút 29 giây; File video có tên "ch02_20240115083143.mp4", dung lượng: 13,5MB, thời lượng 01 phút 34 giây; File video có tên "ch02 20240115094017.mp4", dung lượng: 5,37MB, thời lượng 00 phút 30 giây; File video có tên "ch02 20240115094044.mp4", dung lượng: 4,18MB, thời lượng 00 phút 26 giây; File video có tên "ch02 202401150941 27.mp4", dung lượng: 6,8MB, thời lượng 00 phút 39 giây; File video có tên "ch03 20240115082945.mp4", dung lượng: 4,62MB, thời lượng 00 phút 22 giây; File video có tên “55642480612971212.mp4", dung lượng: 6,03MB, thời lượng 00 phút 46 giây. 2. Trích xuất được 12 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định”. Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Văn T quan sát các video và hình ảnh trong các file video đã thu giữ. Kết quả T thừa nhận có hình ảnh T chỉ tay và chửi đe dọa giết chị V2 tại nhà văn hóa thôn C, xã Đ; hình ảnh T đến Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh B có lời nói đe dọa và yêu cầu anh H xóa video đã quay.

Tại bản cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 22 tháng 03 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 03/5/2024, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nhưng không được bình xét cho vay vốn để làm ăn, cán bộ còn xúc phạm bị cáo; bị cáo có bố đẻ bị nhiễm chất độc hóa học có giấy chứng nhận và được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của

bị cáo Nguyễn Văn T, sửa phần hình phạt của bản án sơ thẩm; phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (T1) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn T không tự bào chữa tranh luận, đối đáp gì.

Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T thì thấy: Buổi chiều ngày 14/01/2024 tại nhà văn hóa thôn C, xã Đ, thành phố B, tổ vay vốn của Hội liên hiệp phụ nữ xã Đ phối hợp cùng Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh B tổ chức cuộc họp bình xét để kết nạp Nguyễn Văn T làm tổ viên để được làm thủ tục vay vốn ngân hàng. Kết quả bỏ phiếu thì T không đủ điều kiện kết nạp và không được bình xét cho vay vốn. T cho rằng chị Khổng Minh V2 là Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ xã Đ đã gây khó khăn nên có những lời nói to tiếng, đe dọa. Khi chị V2 lấy xe máy để ra về thì T chặn lại không cho về; chỉ tay vào mặt chị V2 và chửi đe dọa giết. Anh Phạm Văn H là cán bộ ngân hàng dùng điện thoại quay lại sự việc thì T yêu cầu xóa video nhưng anh H không đồng ý. Do vậy T dùng tay túm cổ áo du đẩy, dùng đầu đập vào mặt anh H, lên gối vào háng anh H nhưng anh H tránh được. Sau đó mọi người can ngăn nên sự việc kết thúc. Buổi sáng ngày hôm sau, T đến trụ sở Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh B yêu cầu anh H xóa video và có những lời nói đe dọa. Buổi chiều cùng ngày, T tiếp tục đến trụ sở ngân hàng để tìm gặp anh H nhưng vì anh H sợ nên tránh mặt. T đi ra cổng ngân hàng đứng đợi để tìm gặp anh H. Khi ngân hàng báo cho Công an thành phố B đến giải quyết thì sự việc kết thúc.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng" được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ những nội dung trên án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Nguyễn Văn T về tội"Gây rối trật tự công cộng", là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T thấy: Tại phiên tòa, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm hình phạt nên các vấn đề khác của án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, HĐXX phúc thẩm không đặt ra giải quyết.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Án sơ thẩm xác định bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; là có căn cứ.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ (ông Nguyễn Ngọc P) là thương binh hạng ¾. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; là có căn cứ.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Đánh bạc”.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự chung tại khu vực nhà văn hóa thôn N1 là nơi có nhiều người đang làm việc tại thời điểm đó, sau đó bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tại Ngân hàng trong giờ hành chính, nơi có nhiều người đang làm việc đã xâm phạm vào những nội quy, quy tắc về trật tự chung nơi công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc sống của xã hội, gây tâm lý bất an, hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của Ngân hàng. Do vậy, hành vi của bị cáo cần phải nghiêm trị bằng pháp luật hình sự, cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để răn đe và phòng ngừa chung. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội đối với bị cáo.

Tại quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T xuất trình các tình tiết mới xin giảm nhẹ hình phạt đó là bị cáo có bố đẻ ông Nguyễn Ngọc P có giấy chứng nhận hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, tỷ lệ suy giảm 41 - 60% và được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Hội đồng xét xử thấy đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T; sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (T1) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HCTP;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Gia Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS-PT ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (tội gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 119/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tr - gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger