Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08/7/2024

V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khỏe
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư
  • 2. Bà Lê Thị Vân
  • - Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 274/2024/TLST-HNGĐ ngày 31/5/2024 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung".

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/7/2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng H, sinh năm 1998.
  • Địa chỉ: ấp M, xã L, huyện C, Tiền Giang.
  • * Bị đơn: Anh Mai Văn V, sinh năm 1986.
  • Địa chỉ: ấp M, xã L, huyện C, Tiền Giang.

(Chị H, anh V có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 04/3/2024 các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Hồng H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Do tìm hiểu quen biết trước chị H và anh V xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L theo giấy đăng ký kết hôn số 132 ngày 22/12/2016. Vợ chồng chung sống đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp nhau về tính tình, lối sống nên thường hay cải nhau, đã ly thân cắt đứt quan hệ vợ chồng từ năm 2023 đến nay. Do cuộc sống vợ chồng sống không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn đoàn tụ lại được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh V.

Về con chung: Có 02 con chung tên Mai Thị Ngọc N, sinh ngày 28/5/2015 và Mai Minh T, sinh ngày 21/8/2017. Hiện cháu T do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu N do anh V chăm sóc nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu T, giao cháu N cho anh V tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản và nợ chung: Tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Mai Văn V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn, có đăng ký kết hôn và quá trình chung sống vợ chồng như chị H trình bày là đúng. Trong thời gian vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do không hòa hợp nhau về tính tình, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, nên nay anh V đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: Có 02 con chung tên Mai Thị Ngọc N, sinh ngày 28/5/2015 và Mai Minh T, sinh ngày 21/8/2017. Hiện cháu T do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu N do anh V chăm sóc nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh V yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng hết 02 con chung không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Do tìm hiểu quen biết trước chị H và anh V xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L theo giấy đăng ký kết hôn số 132 ngày 22/12/2016 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp nhau về tính tình, lối sống nên thường hay cải nhau, đã ly thân cắt đứt quan hệ vợ chồng từ năm 2023 đến nay. Do cuộc sống vợ chồng sống không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn đoàn tụ được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh V. Tại tòa, anh V xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên nay anh V đồng ý ly hôn với chị H. Xét, việc thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh V là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2] Về con chung: Có 02 con chung tên Mai Thị Ngọc N, sinh ngày 28/5/2015 và Mai Minh T, sinh ngày 21/8/2017. Hiện cháu T do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu N do anh V chăm sóc nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T; còn cháu N tiếp tục giao cho anh V chăm sóc nuôi dưỡng. Còn anh V cầu được chăm sóc nuôi dưỡng hết 02 con chung. Tuy nhiên, việc giao con chưa thành niên cho ai chăm sóc nuôi dưỡng phải đảm bảo tốt về mọi mặt, điều kiện phát triển của con chung sau này. Xét, từ khi chị H và anh V sống ly thân đến nay cháu T sống với chị H, còn cháu N sống với anh V, đã ổn định cuộc sống và đảm bảo tốt về mọi mặt. Hiện tại chị H có công việc làm ổn định thu nhập mỗi tháng 19.000.000 đồng đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung (có xác nhận về điều kiện nuôi con của chính quyền địa phương xã L, thị xã C ngày 01/7/2024 kèm theo). Mặc khác, chị H và anh V chung sống với nhau có được 02 con chung, nên khi vợ chồng ly hôn giao mỗi người nuôi 01 con chung là hoàn toàn phù hợp. Đồng thời, cháu T đang sinh sống với chị H đã ổn định nếu giao cháu T anh V nuôi sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của cháu, phải chuyển trường ảnh hưởng đến việc học tập của cháu T. Anh V tại tòa cho rằng chị H không có điều kiện kinh tế và không có thời gian để chăm sóc con chung, không quan tâm chăm sóc con, nhưng đây chỉ là lời trình bày của anh V chứ trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh V không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh. Do đó, để ổn định cuộc sống cho con chung nên Hội đồng xét xử giao cháu T cho chị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng; giao cháu N cho anh V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H, anh V không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản và nợ chung: Tự thoả thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H, căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án nên chị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 55, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Hồng H và anh Mai Văn V.
  2. Về con chung: Giao cháu Mai Minh T, sinh ngày 21/8/2017 cho chị Lê Thị Hồng H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng; Giao cháu Mai Thị Ngọc N, sinh ngày 28/5/2015 cho V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau do chị H, anh V không có yêu cầu.
  3. Về án phí: Chị Lê Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002728 ngày 28/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nên xem như chị H đã nộp xong tiền án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Hồng H, anh Mai Văn V có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS huyện Cai Lậy;
  • - UBND xã Long Tiên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hồ Văn Khỏe

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 119/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn do mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger