Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số:119/2024/HS - ST

Ngày: 07/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Trần Thị Hằng

+ Bà Trần Thị Thanh Vân

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Lịch - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119 /2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đỗ Thị T, tên gọi khác: không, sinh năm 1989, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Kim S (đã chết) và bà Trần Thị B; bị cáo có 05 con lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 24/8/2023 bị Công an tỉnh K khởi tố về tội cưỡng đoạt tài sản và đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử 10 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản tại bản án số 54/2024/HS-ST ngày 25/6/2024; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phùng Tuấn T1, tên gọi khác: không, sinh năm 1992, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn P và bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Phạm Thị T3, có 03 con lớn sinh năm 2016 nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L từ ngày 29/01/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2

3. Họ và tên: Trần Đức T4, tên gọi khác: không, sinh năm 1998, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc D (đã chết) và bà Kim Thị N; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13 ngày 12/4/2022 của Công an huyện L xử phạt 1.500.000đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L từ ngày 29/01/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Phạm Văn T5, tên gọi khác: không, sinh năm 1998, tại Vĩnh Phúc; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L từ ngày 29/01/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Bùi Thị G, tên gọi khác: không, sinh năm 1994, tại Hòa Bình; Nơi ĐKHKTT: Đội 1 xóm L, xã X, huyện K, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Mường; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn B1 và bà Bùi Thị T6 (H1); bị cáo có chồng là Đinh Văn H2 (đã ly hôn) và 02 con sinh năm 2012 và sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 280 ngày 02/02/2021 của Công an huyện Đ xử phạt 750.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L từ ngày 29/01/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: Phan Văn C, tên gọi khác: không, sinh năm 1995, tại Đắk Lắk; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Đ (đã chết) và bà Hà Thị S1; có vợ là Hoàng Ngọc Kiều T7 (đã ly hôn) tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L từ ngày 30/01/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

7. Họ và tên: Phan Thành H3, tên gọi khác: không, sinh năm 2002, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh D1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M1; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L từ ngày 30/01/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Tô Hữu B2, sinh năm 2009. Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

Người đại diện hợp pháp cho Tô Hữu B2: bà Trần Thị T8. Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

3

Người làm chứng: anh Võ Tá B3, sinh năm 2003. Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 28/01/2024, Đỗ Thị T đón xe buýt đi từ nhà ra huyện Đ chơi với bạn để ngày hôm sau đón xe khách đi tỉnh Khánh Hòa làm việc với phòng C2 Công an tỉnh K vì có liên quan đến vụ án “Cưỡng đoạt tài sản” xảy ra trước đó.

Đến sáng ngày 29/01/2024, do không thấy Lương Văn L gửi tiền để làm chi phí sinh hoạt nên T đón xe taxi quay về nhà. Trên đường đi về, T gọi điện thoại cho Bùi Thị G và nhờ G vào làm thuê hái su su cho mình thì G đồng ý. Trong lúc đang hái su su thì Tranh xảy ra xích mích, mâu thuẫn với Lê nên T đi ra vị trí nơi Gái đang hái su su. Tại đây, T thấy Trình Sỹ H đang chới cùng G. Do đang giận nhau với L nên T nói Gái ngừng hái su su rồi nhờ Đ chở TG ra nhà nghỉ S3 thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để thuê phòng nghỉ. Khi được T nhờ thì Đ đồng ý rồi dùng xe máy chở cả hai đến nhà nghỉ S3. Khi chở hai người đến nơi thì Đ quay về còn TG thuê phòng nghỉ Vip 1 để nghỉ và T đã thanh toán 250.000đồng cho quản lý nhà nghỉ. Trong lúc G nằm nghỉ thì T mượn điện thoại của G đăng nhập vào tài khoản mesenger “Lang Bước” của T nhắn tin với một số người bạn để tâm sự về chuyện gia đình. Cụ thể, T đã nhắn tin cho Phùng Tuấn T1 và hỏi T1 đang ở đâu thì T1 trả lời đang ở nhà bố vợ ăn nhậu; T nói với T1 về việc mình đang ở nhà nghỉ S3 và bảo T1 rảnh thì ghé chơi. Một lúc sau, T1 rủ em vợ là Phạm Văn T5 đi cùng mình đến chỗ T đang ở nhà nghỉ S3 để chơi thì T5 đồng ý.

Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, T1 cùng T5 đến phòng Vip 1 của nhà nghỉ S3 để gặp T. Tại đây, T biết T1 là người có sử dụng ma túy nên hỏi T1 có gì vui vui không để chơi ( ý muốn nói là có ma túy không để sử dụng). Khi biết T1 có ý muốn chơi ma túy nên T đưa cho T1 500.000đồng để đi mua ma túy. Trong lúc T1 vừa cầm tiền thì T đã liên hệ với một người bạn xã hội tên thường gọi là V để xin ma túy thì được người này đồng ý cho. Người này nhắn tin cho T biết ma túy đặt ở hộp đồng hồ trên tại cột điện gần khu vực sân bóng dốc vắt thuộc thôn K, xã T, huyện L. Lúc này, T nói T1 đến khu vực trên để lấy ma túy thì T1 đồng ý. T1 một mình điều khiển xe mượn của bạn trước đó đi đến địa điểm do T chỉ dẫn lấy ma túy. Sau khi lấy được một gói nilon chứa ma túy ở hộp đồng hồ thì T1 về phòng Vip 1 rồi để trên tủ gỗ kê đầu giường ngủ. Do T xin được ma túy nên khi T1 đi lấy ma túy về thì trả lại số tiền 500.000đồng cho T. Lúc này do không có dụng cụ để sử dụng ma túy nên T1 đi ra ngoài kiềm. Trên đường đi tìm kiếm dụng cụ để sử dụng ma túy thì T1 gặp Tô Hữu B2 đang chở theo Trần Đức T4. Biết T4 là người sử dụng ma túy nên T1 hỏi T4 có cóng thủy tinh hay không thì T4 nói cho T1 biết có nhưng đang để ở nhà. T1 rủ T4 về nhà lấy để mang lên nhà nghỉ Sơn L1 sử dụng ma túy thì T4 đồng ý còn B2 thì đi về nhà.

4

T4 chở T1 về nhà T4 thuộc thôn H, xã T, huyện L lấy một cóng thủy tinh và một ống hút nhựa màu xanh trắng rồi cả hai đi lên phòng Vip 1 nhà nghỉ S3. Tại đây có T, T1, T4, T5G. Sau đó, T4 để cóng thủy tinh và ống hút nhựa màu xanh trắng xuống thàm trong phòng, T5 đưa cho T4 chai nước ngọt S2 nói T4 uống hết nước để lấy chai nhựa làm dụng cụ hút ma túy. T4 mang vào nhà vệ sinh đổ bỏ nước rồi mang chai ra đặt trước mặt T5 để T5 lấy cóng thủy tinh và ống hút nhựa gắn vào nắp tạo thành dụng cụ hút ma túy. Sau khi T5 làm xong dụng cụ thì T4 lấy bật lửa ra làm quẹt khò nhưng không được. Do T4 không làm được nên G tự làm rồi lấy cái bật lửa màu tím chế tạo thành quẹt khò để châm hút ma túy. Sau khi chuẩn bị xong dụng cụ, T5 lấy gói nilon chứa ma túy đổ một phần vào trong cóng thủy tinh, G dùng quẹt khò đốt ma túy tan ra cho cả nhóm sử dụng. Trong quá trình sử dụng, G đốt cho T, T1 sử dụng mỗi người một lần. Khi G cầm dụng cụ hút ma túy đốt cho T1 sử dụng thì quẹt lửa không cháy nên G cầm dụng cụ hút ma túy còn T1 tự châm lửa rồi hút. T cầm lên đốt cho gái sử dụng một lần; Trọng đốt cho T1 sử dụng một lần. sau đó, cả nhóm thay phiên nhau tự đốt ma túy lên để sử dụng. Khi sử dụng hết ma túy trong cóng thì cả nhóm ngồi nói chuyện một lúc rồi T5T1 đi về còn T4 đi bộ xuống nhà Tô Hữu B2 chơi. Tranh dọn dẹp phòng thì thấy trong túi nilon vẫn còn ma túy nên T để lên mép ổ điện trong phòng rồi mang dụng cụ hút ma túy cất giấu ở chậu cây cảnh phía trước phòng của nhà nghỉ.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, T4 đi bộ xuống nhà B2 chơi, lúc này B2 đang ngủ trên giường, T4 đi lại ghé vào tai B2 và rủ B2 lên nhà nghỉ để chơi (ý muốn nói là rủ B2 sử dụng ma túy) thì B2 đồng ý. Bằng lấy xe mượn của bạn trước đó chở T4 lên nhà nghỉ và vào phòng Vip 1. Tại đây, T nhờ B2 đi mua hộ hộp cơm để ăn và hai sim điện thoại thì B2 đồng ý; Khi Bằng quay về phòng thì có Tranh, B2, T4, G. Lúc này, T nói T4 đi ra ngoài lấy dụng cụ hút ma túy ở trước cửa nơi Tranh cất giấu trước đó. T4 đi ra tìm nhưng không thấy thì T đi ra nơi cất giấu cầm dụng cụ hút ma túy mang vào phòng. Khi mang dụng cụ hút ma túy vào phòng thì G dùng bật lửa hơ đốt phần nhựa của chai rồi uốn cong lại nhằm thuận tiện cho việc sử dụng ma túy. T nói G lấy gói nilon chứa ma túy mà Tranh cất ở mép ổ điện mang xuống để sử dụng. Gái lấy gói nilon chứa ma túy đổ vào trong cóng rồi đốt ma túy cho tan ra, đốt xong G cầm lên châm đốt lần lượt cho B2, T4, T mỗi người sử dụng một lượt. Tiếp đó T4 cầm dụng cụ hút ma túy lên rồi đối cho B2, G, T sử dụng mỗi người một lượt, rồi T4 tự đốt cho mình sử dụng. Một lúc sau, T4 cầm dụng cụ hút ma túy lên đốt cho G sử dụng nhưng do ma túy còn ít nên G không sử dụng, T4 đốt cho T sử dụng nhưng T đang ăn cơm nên không sử dụng; sau đó T4B2 thay phiên nhau tự đốt sử dụng. Trong lúc sử dụng thì dụng cụ hút ma túy bị đổ làm cóng thủy tinh lủng nên không sử dụng được. G nói biết làm lại cóng thì T4 nói nhà mình có khò nên T4 mượn xe của B2 chở G về nhà T4 làm lại cóng. Lúc này, T thuê thêm phòng Vip 2 bên cạnh để nghỉ ngơi còn Bằng ở trong phòng Vip 1 coi tivi. Khi T4 chở G về nhà mình thì lấy một bình gas có gắn đầu khò và một quẹt lửa màu đỏ đưa cho G. G đi vào phòng ngủ của T4 để khò, làm lại cóng; sau khi G làm lại cóng thì do cóng thủy tinh còn nóng nên G nói T4 lấy giấy vệ sinh bọc lại rồi cả hai đi về

5

nhà nghỉ S3.

Khoảng 17 giờ cùng ngày, T4 chở G về nhà nghỉ S3 vào phòng Vip 1 để cóng tại đây rồi gọi Tranh sang phòng nói chuyện. Trong lúc cả bọn đang nói chuyện thì T1 đến; T nói với T1 để T nhắn tin hỏi V xem còn ma túy không để xin nhưng không thấy V trả lời. Cả nhóm ngồi nói chuyện được một lúc thì G nhờ T4 chở về nhà mình ở thôn T, xã T, huyện L để làm đồ ăn ngày hôm sau đi thăm nuôi chồng hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ C3 H4. Trong lúc T đi mượn mũ bảo hiểm cho G thì T5 đến và đi vào phòng còn T4 chở G về nhà. Một lúc sau, V nhắn tin lại cho T đã để ma túy chỗ cũ thì T nhắn tin cho T1 “ đi đi em”. T1 hỏi T lấy ma túy chỗ nào thì T nói tới chỗ cũ thì T1 biết và đi đến khu vực dốc vắt để lấy ma túy. Khoảng 15 phút sau, T1 lấy được ma túy mang vào phòng Vip 1 để lên tủ gỗ kê đầu giường. Lúc này ở trong phòng có T, T1, B2T5 ngồi trên giường. T5 lấy gói nilon chứa ma túy đổ ra cho một phần vào cóng, phần còn lại T5 dùng bật lửa hàn kín rồi để trên giường. Sau đó, T5 dùng quẹt khò màu tím đốt cho ma túy tan ra rồi cầm dụng cụ hút ma túy đưa lên cho T sử dụng; Tranh sử dụng xong thì T5 đốt cho B2T1 sử dụng; B2T1 hút xong thì T5 tự đốt cho mình sử dụng. T5 sử dụng xong thì B2 cầm dụng cụ hút ma túy lên đốt lần lượt cho T, T5T1 mỗi người sử dụng hai lượt rồi B2 tự đốt cho mình sử dụng. Sau đó cả nhóm ngồi thay phiên nhau tự đốt và tự sử dụng.

Trong lúc cả nhóm đang sử dụng ma túy thì T nhắn tin với Phan Thành H3 để mượn cục sạc điện thoại, đồng thời nhắn tin với Phan Văn C để hỏi mượn tiền. Cao hỏi T đang ở đâu thì T nói đang ở nhà nghỉ S3. Một lúc sau, H3 mang cục sạc điện thoại đến thì T rủ H3 ở lại sử dụng ma túy thì H3 đồng ý. H3 ngồi xuống và được T cầm dụng cụ hút ma túy đốt lên cho H3 sử dụng; H3 sử dụng xong thì T để dụng cụ hút ma túy và quẹt khò xuống tủ kê đầu giường. Một lúc sau, H3 cầm dụng cụ hút ma túy lên đốt lần lượt cho T, T1B2 sử dụng rồi H3 tự đốt cho H3 sử dụng. T5 ngồi chơi một lúc thì đi về trước.

Sau khi T5 về được một lúc thì T nói B2 về nhà lấy cho T mượn máy tính laptop để T sử dụng rồi B2 mượn xe của T1 điều khiển về nhà mình lấy laptop mang lên. Khi bằng mang máy tính lên thì trong phòng lúc này có Tranh, B2, T1, H3. Một lúc sau thì C, T4G cũng đi về tới. Sau đó, H3 cầm dụng cụ hút ma túy đưa lên cho C sử dụng một lượt thì hết ma túy. Lúc này, T đang ngồi trên giường thì C nói “có gì chơi không chị” thì T nói là còn một ít rồi ném gói nilon chứa ma túy xuống thảm. Cao nói H3 vào nhà vệ sinh sục rửa dụng cụ hút ma túy. H3 rửa xong thì mang ra để xuống thảm, Cao lấy gói ma túy đổ vào cóng còn H3 dùng quẹt lửa nấu ma túy lên. H3 đốt ma túy xong thì để bộ dụng cụ xuống thảm rồi Cao tự cầm đốt để sử dụng, C sử dụng xong thì T4 cầm dụng cụ hút ma túy lên châm đốt lần lượt cho H3, T, GB2 sử dụng mỗi người một lượt rồi T4 tự đốt sử dụng. Sau đó cả nhóm thay phiên nhau tự đốt sử dụng. Cao là người sử dụng cuối cùng thì hết ma túy trong cóng, T nói H3C đi về. Khi H3 đi ra ngoài cửa và Cao chuẩn bị mở cửa đi về thì có lực lượng Công an đến kiểm tra; C, H3, T4B2 bỏ chạy ra ngoài, T4 bị khống chế lại còn Cao, H3, B2 chạy thoát được. sau đó lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội

6

quả tang thu giữ niêm phong tang vật rồi đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Ngày 30/01/2024, Phan Đức C1, Phan Thành H3, Phạm Văn T5Tô Hữu B2 lên cơ quan Công an làm việc. Quá trình điều tra các bị can đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa có chữ Sting cổ cai có viền màu đỏ bên trên gắn một ống hút nhựa màu cam và một cóng thủy tinh bị vỡ một đầu; 02 bật lửa màu tím; 01 bình ga mini có nhiều màu sắc hình trụ tròn bên trên có gắn đầu khò có nắp màu vàng và 01 bật lửa màu đỏ bên trên có nắp bằng sắt màu trắng; 01 ống hút có màu xanh trắng; 01 ống thủy tinh bị vỡ hai đầu và 08 mảnh vụn thủy tinh bên trong ống và các mảnh vụn có bám dính chất màu đen nghi là ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 5 màu đen đã qua sử dụng.

Tại kết luận giám định số 200/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng C2 Công an tỉnh L kết luận: tìm thấy chất ma túy loại methaphetamine trong ống thủy tinh và nhiều mảnh vỡ; tìm thấy chất ma túy loại methaphetamine trong một chai nhựa có chữ Sting có nắp màu trắng gắn một ống hút nhựa màu cam, một ống thủy tinh bị vỡ một đầu và một ống hút nhựa màu xanh trắng.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử các bị can Đỗ Thị T, Phùng Tuấn T1, Trần Đức T4, Phạm Văn T5, Bùi Thị G về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; các bị can Phan Thành H3, Phan Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Đỗ Thị T, Phùng Tuấn T1, Trần Đức T4, Phạm Văn T5, Bùi Thị G, Phan Thành H3, Phan Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s, n khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Thị T từ 08 đến 09 năm tù;

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phùng Tuấn T1 từ 7 đến 8 năm tù;

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Trần Đức T4, Phạm Văn T5Bùi Thị G mỗi bị cáo từ 06 đến 07 năm tù

7

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thành H3, Phan Văn C mỗi bị cáo từ 03 đến 04 năm tù

Về xử lý vật chứng, đề nghị trả lại điện thoại cho Bùi Thị G còn các vật chứng khác giải quyết theo quy định của pháp luật; Về án phí buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo xác định quá trình điều tra các bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Các bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận vào ngày 29/01/2024 tại nhà S thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, các bị cáo Đỗ Thị T, Phùng Tuấn T1, Trần Đức T4, Phạm Văn T5, Bùi Thị G, Phan Thành H3, Phan Văn C đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng bắt quả tang. Trong đó các bị cáo Đỗ Thị T, Trần Đức T4 có hành vi tổ chức sử dụng ba lần; các bị cáo Phùng Tuấn T1, Phạm Văn T5, Bùi Thị G có hành vi tổ chức sử dụng 02 lần.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Đỗ Thị T, Phùng Tuấn T1, Trần Đức T4, Phạm Văn T5, Bùi Thị G về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phan Thành H3, Phan Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành, có đầy

8

đủ nhận thức, các bị cáo biết rõ việc mua bán, tàng trữ, cung cấp ma túy, chuẩn bị địa điểm, phương tiện, dụng cụ... để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy là những hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, các bị cáo đã không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này đối với chính bản thân mình mà mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ và tổ chức sử dụng ma túy nhiều lần trong ngày thì đã bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

[4]. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau từ trước, được thể hiện qua vai trò của từng bị cáo trong vụ án như sau:

Đỗ Thị T là người đầu tiên gợi ý việc sử dụng ma túy, trực tiếp đưa tiền cho T1 đi mua ma túy, sử dụng địa điểm là phòng do T thuê của nhà nghỉ S3, tìm nguồn cung cấp ma túy cho nhiều người sử dụng; cầm dụng cụ chứa ma túy đưa lên rồi đốt cho Bùi Thị G, Phan Thành H3 sử dụng đồng thời T cũng là người rủ H3 sử dụng ma túy.

Phùng Tuấn T1 là người tiếp nhận ý chí đồng ý tổ chức sử dụng ma túy khi T có gợi ý, trực tiếp đi lấy ma túy hai lần mang về phòng do T thuê tại nhà nghỉ S3; chủ động tìm kiếm dụng cụ là cóng thủy tinh nhằm mục đích cho nhiều người sử dụng ma túy tại nhà nghỉ S3 đồng thời T1 cũng là người rủ T4 sử dụng ma túy.

Trần Đức T4 khi được T1 rủ thì đã đồng ý đồng thời có hành vi cung cấp dụng cụ hút ma túy là cóng thủy tinh và ống hút nhựa màu xanh trắng; sau đó lại tiếp tục cung cấp bình gas có gắn đầu khò và bật lửa để Bùi Thị G làm lại cóng cho nhiều người sử dụng ma túy tại nhà nghỉ S3. Ngoài ra, T4 cũng là người rủ B2 đi sử dụng ma túy, quá trình sử dụng ma túy thì T4 có hành vi đốt ma túy cho T, G, H3B2 sử dụng.

Phạm Văn T5 có hành vi làm dụng cụ để sử dụng ma túy, đổ ma túy vào cóng thủy tinh rồi dùng quẹt khò đốt ma túy tan ra, sau đó cầm dụng cụ chứa ma túy đưa cho T, T1, B2 sử dụng.

Bùi Thị G đã có hành vi làm quẹt khò để châm hút ma túy, lấy ma túy đổ vào cóng rồi đốt cho tan ra, cầm dụng cụ chứa ma túy đốt cho T, T1, T4, B2 sử dụng. Ngoài ra, quá trình sử dụng ma túy tại nhà nghỉ S3 thì cóng bị lủng nên G đã về nhà T4 dùng bình gas có gắn đầu khò và bật lửa để làm lại cóng thủy tinh cho nhiều người sử dụng ma túy tại nhà nghỉ S3.

Phan Thành H3 đã có hành vi sục rửa dụng cụ hút ma túy, dùng quẹt lửa đốt ma túy rồi cầm dụng cụ hút ma túy lên đưa cho T, T1, B2 sử dụng.

Phan Văn C đã có hành vi đổ ma túy vào cóng thủy tinh cho nhiều người sử dụng và tự cầm dụng cụ hút ma túy đốt để cho mình sử dụng.

9

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: xét thấy các bị cáo phạm tội lần này không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo Phan Văn C có bố đã từng tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia được Nhà nước tặng thường huân chương chiến công hàng ba, đồng thời bản thân bị cáo cũng từng tham gia nhập ngũ vào năm 2015 đến năm 2016 thì xuất ngũ nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Văn C. Bị cáo Đỗ Thị T phạm tội khi đang mang thai nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K khởi tố về hành vi Cưỡng đoạt tài sản và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú trong quá trình điều tra đối với hành vi này nhưng bị cáo vẫn không lấy đó để làm bài học cho bản thân mà lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng với vai trò chính trong vụ án này, hơn nữa trong cùng một ngày nhưng bị cáo đã có hành vi tổ chức sử dụng ma túy 03 lần cho nhiều người tham gia. Bị cáo Phùng Tuấn T1, Trần Đức T4, Phạm Văn T5Bùi Thị G thực hiện hành vi phạm tội với vai trò rất tích cực trong vụ án; trong đó bị cáo T4 đã từng bị Công an huyện L xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào năm 2022 nhưng đến năm 2024 mới nộp phạt, bị cáo G đã từng bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy năm 2021. Bị cáo Phan Thành H3, Phan Văn C đến sau cùng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và ra về thì bị Công an phát hiện. Do đó bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất trong vụ án; các bị cáo T4, G phải chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo T nhưng cao hơn các bị cáo T1T5; các bị cáo T1, T5 phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau nhưng thấp hơn các bị cáo T4, G; bị cáo H3 chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo T1 và bị cáo T5 nhưng cao hơn bị cáo C do bị cáo C có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn huyện L, tỉnh Lâm Đồng đang có chiều hướng gia tăng, cần phải cách ly tất cả các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật. Do đó cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tại phiên tòa đối với các bị cáo T, T1, T5, H3C. Riêng đối với bị cáo T4 và bị cáo G thì Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với hai bị cáo này là chưa tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của hai bị cáo, hơn nữa hai bị cáo có nhân thân không tốt đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy.

10

Về tổng hợp hình phạt: bị cáo Đỗ Thị T đang phải chấp hành hình phạt của bản án số 54/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa nên áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó tổng hợp với hình phạt của bản án trước và quyết định hình phạt chung đối với bị cáo theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên xét về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện thì việc tổng hợp hình phạt đối với bị cáo T thì không phù hợp nên sẽ được tổng hợp sau theo quy định của pháp luật.

[7]. Đối với hành vi của Tô Hữu B2 đã đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì Tô Hữu B2 chưa đủ 15 tuổi nên chưa đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội rất nghiêm trọng theo quy định tại khoàn 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã căn cứ Điều 26 Nghị định 118/2021/NĐ-CP của Chính phủ để áp dụng biện pháp hành chính bằng hình thức nhắc nhở trực tiếp đối với B2 và giao cho gia đình quản lý giáo dục nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Đối với đối tượng tên "Vang" là người cung cấp ma túy cho T, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính ra, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, các bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[9]. Xử lý vật chứng: qua xem xét các vật chứng thu giữ đã được cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L chuyển giao sang chi cục thi hành án dân sự huyện L, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với 01 hộp giấy đựng bao gói vật chứng và mẫu vật gửi giám định được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Võ Như T9, Nguyễn Quang H5, Đặng Quốc T10 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng C2 Công an tỉnh L; 02 bật lửa màu tím trong đó có 01 cái bật lửa bị mất phần nắp được niêm phong trong phong bì đánh số 02, bên ngoài có dán giấy niêm phong có chữ ký ghi tên Hoàng Văn T11, Vũ Tá B4, Đỗ Thị T, Bùi Thị G, Trần Đức T4, Phùng Tuấn T1, Bùi Văn B5 và dấu tròn đỏ của Công an xã T, huyện L; 01 bình ga mini có nhiều màu sắc hình trụ tròn bên trên có gắn một đầu khò có nắp màu vàng và 01 bật lửa màu đỏ bên trên có nắp bằng sát màu trắng được niêm phong dán giấy A4 bên ngoài có chữ ký của Hoàng Văn T11, Bùi Thị G, Trần Đức T4, Kim Thị N, Bùi Văn B5 và dấu tròn đỏ của của Công an xã T. Toàn bộ các vật chứng này liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

11

Đối với điện thoại di động hiệu Redmi Note 5 màu đen đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong trong phong bì bưu điện bên ngoài có chữ ký của Hoàng Văn T11, Bùi Thị G và dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L. Đây là điện thoại được thu giữ của Bùi Thị G. Chiếc điện thoại này Gái cho T mượn dùng để liên lạc tìm nguồn ma túy cho nhiều người sử dụng nên tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, tại phiên tòa các bị cáo còn khai nhận quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L có thu giữ điện thoại và xe, cụ thể: thu giữ của Phan Thành H3 01 điện thoại samsung A10; thu giữ của Phan Văn C 01 điện thoại Iphone 14 pro; thu giữ của Phùng Tuấn T1 01 điện thoại samsung A30, 01 căn cước công dân và 01 xe máy hiệu yamaha. Tuy nhiện, bị cáo H3 và bị cáo C không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét các tài sản thu giữ của hai bị cáo trong vụ án này; còn bị Cáo T1 xác định chữ ký và chữ viết ghi họ tên Phùng Tuấn T1 trong biên bản bắt người phạm tội quả tang là của bị cáo đồng thời bị cáo không xuất trình được chứng cứ nào khác chứng minh việc bị thu giữ các tài sản trên nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

[10]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị T, Phùng Tuấn T1, Trần Đức T4, Phạm Văn T5, Bùi Thị G, Phan Thành H3, Phan Văn C phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1.1. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s, n khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Đỗ Thị T 08(tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

1.2. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Phùng Tuấn T1 07(bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2024.

1.3. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Trần Đức T4 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2024.

1.4. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Phạm Văn T5 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2024.

12

1.5. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Bùi Thị G 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2024.

1.6. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54, Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Phan Thành H3 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2024.

1.7. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54, Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Phan Văn C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2.1. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 5 màu đen đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong trong phong bì bưu điện bên ngoài có chữ ký của Hoàng Văn T11, Bùi Thị G và dâu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L.

2.2. Tuyên tịch thu tiêu hủy:

01 hộp giấy đựng bao gói vật chứng và mẫu vật gửi giám định được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Võ Như T9, Nguyễn Quang H5, Đặng Quốc T10 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng C2 Công an tỉnh L;

02 bật lửa màu tím trong đó có 01 cái bật lửa bị mất phần nắp được niêm phong trong phong bì đánh số 02, bên ngoài có dán giấy niêm phong có chữ ký ghi tên Hoàng Văn T11, Vũ Tá B4, Đỗ Thị T, Bùi Thị G, Trần Đức T4, Phùng Tuấn T1, Bùi Văn B5 và dấu tròn đỏ của Công an xã T, huyện L;

01 bình ga mini có nhiều màu sắc hình trụ tròn bên trên có gắn một đầu khò có nắp màu vàng và 01 bật lửa màu đỏ bên trên có nắp bằng sát màu trắng được niêm phong dán giấy A4 bên ngoài có chữ ký của Hoàng Văn T11, Bùi Thị G, Trần Đức T4, Kim Thị N, Bùi Văn B5 và dấu tròn đỏ của của Công an xã T.

(Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 23/7/2024 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

13

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/8/2024) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS - ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 119/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị T cùng đồng phạm phạm tôi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger