Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/DS-ST

Ngày: 07 - 5 - 2024

V/v tranh chấp về hợp đồng

dịch vụ tưới tiêu

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Khắc Chung; Nguyễn Hoàng Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trọng Tín - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 4 năm 2024 và ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ tưới tiêu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 212/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Tổ hợp tác dịch vụ tưới, tiêu nông nghiệp Bờ Dâu gồm các ông: Lê Văn D, sinh năm 1971; Nguyễn Văn T, sinh năm 1977; Nguyễn Chí H, sinh năm 1979. Cùng địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Chí H: Ông Lê Văn D, sinh năm 1971; Nguyễn Văn T, sinh năm 1977; Cùng địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (đại diện theo ủy quyền). Có mặt.

Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1962. Địa chỉ: tổ E, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Phan Văn B – Văn phòng L – thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H1, sinh năm 1947. Địa chỉ cư trú: ấp L, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Tổ hợp tác dịch vụ tưới, tiêu nông nghiệp Bờ D1 (gọi tắt là Tổ hợp tác) và người đại diện theo ủy quyền ông Lê Văn D trình bày:

Ngày 09 tháng 01 năm 2018 Tổ hợp tác dịch vụ tưới, tiêu nông nghiệp Bờ Dâu thuộc xã T được thành lập và được chứng thực của UBND xã T. Phạm vi hoạt động: phục vụ tưới tiêu cho nông dân tại tiểu vùng kênh 10 – kênh A thuộc ấp B, xã T và có phục vụ tưới tiêu cho ông Lê Văn K diện tích đất nông nghiệp 64.998m² tọa lạc tại ấp B từ vụ Đ năm 2017 đến nay. Phần đất này ông K thuê lại của ông Trần Văn H1. Tổ Hợp tác nhiều lần yêu cầu ông K phải có nghĩa vụ trả tiền lúa nước nhưng ông K không đồng ý.

Từ vụ Đông Xuân năm 2017 đến vụ T năm 2019 tổng cộng 9 vụ thành tiền là 79.947.540 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án ông rút lại yêu cầu khởi kiện ông K đối với năm 2017 số tiền 26.649.220 đồng. Đối với diện tích 14 công tầm cắt (tương đương 18.144m²) ông K tự ý bơm nước cấp 2 ông đồng ý thu 50% (rút lại yêu cầu 50%).

Yêu cầu ông K phải trả tiền lúa nước năm 2018, 2019 là 45.856.000 đồng (bốn mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi sáu nghìn đồng) cụ thể:

Năm 2018:

+ Vụ Đông Xuân: Diện tích 46.854m² x 130.000 đồng = 6.091.000 đồng

Diện tích 18.144m² (14 công tầm cắt) x 65.000 đồng (130.000 đồng/2) = 1.179.000 đồng.

Tổng cộng : 6.091.000 đồng + 1.179.000 đồng = 7.270.000 đồng

+ Vụ Hè Thu: Diện tích 46.854m² x 130.000 đồng = 6.091.000 đồng

Diện tích 18.144m² (14 công tầm cắt) x 65.000 đồng (130.000 đồng/2) = 1.179.000 đồng

Tổng cộng : 6.091.000 đồng + 1.179.000 đồng = 7.270.000 đồng

+ Vụ Thu Đông: Diện tích 46.854m² x 150.000 đồng = 7.028.000 đồng.

Diện tích 18.144m² (14 công tầm cắt) x 75.000 đồng. (150.000 đồng/2) = 1.360.000 đồng

Tổng cộng : 7.028.000 đồng + 1.360.000 đồng = 8.388.000 đồng

Tổng nợ năm 2018: 22.928.000 đồng, bao gồm; 7.270.000 đồng (vụ Đông X) + 7.270.000 đồng (vụ Hè Thu) + 8.388.000 đồng (Vụ T).

Năm 2019:

+ Vụ Đông Xuân: Diện tích 46.854m² x 130.000 đồng = 6.091.000 đồng

Diện tích 18.144m² (14 công tầm cắt) x 650.000 đồng (130.000 đồng/2) = 1.179.000 đồng.

Tổng cộng: 6.091.000 đồng + 1.179.000 đồng = 7.270.000 đồng

+ Vụ Hè Thu: Diện tích 46.854m² x 130.000 đồng = 6.091.000 đồng

Diện tích 18.144m² (14 công tầm cắt) x 650.000 đồng (130.000 đồng/2) = 1.179.000 đồng

Tổng cộng : 6.091.000 đồng + 1.179.000 đồng = 7.270.000 đồng

+ Vụ Thu Đông: Diện tích 46.854m² x 150.000 đồng = 7.028.000 đồng.

Diện tích 18.144m² (14 công tầm cắt) x 75.000 đồng. (150.000 đồng/2) = 1.360.000 đồng

Tổng cộng : 7.028.000 đồng + 1.360.000 đồng = 8.388.000 đồng

Tổng nợ năm 2019: 22.928.000 đồng, bao gồm: 7.270.000 đồng (vụ Đ) + 7.270.000 đồng (vụ Hè Thu) + 8.388.000 đồng ( Vụ T).

Tại Đơn yêu cầu phản tố ngày 19/01/2023 bị đơn ông Lê Văn K trình bày:

Không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của Tổ hợp tác, yêu cầu Tổ hợp tác có nghĩa vụ trả cho ông số tiền 70.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án tại Biên bản hòa giải ngày 20/02/2024 ông K rút lại yêu cầu phản tố, không tranh chấp hay yêu cầu gì đối với đường nước Tư Thông và số tiền 70.000.000 đồng theo đơn phản tố ngày 19/01/2023. Vì việc tranh chấp giữa Tổ hợp tác và ông đã được các bên thỏa thuận giải quyết xong theo biên bản về việc gặp gỡ, đối thoại giữa ông Lê Văn K và ông Lê Văn D, ông Nguyễn Văn T theo biên bản ngày 28/10/2021 của UBND xã T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn là ông Lê Văn D trình bày:

Yêu cầu ông K phải trả tiền lúa nước năm 2018, 2019 là 45.856.000 đồng. Không đồng ý khấu trừ tiền chia lợi nhuận từ cổ phần như ông K trình bày vì việc chia lợi nhuận Tổ hợp tác đã trả cho K số tiền 60.000.000 đồng vào ngày 28/10/2021 theo các bên thỏa thuận.

Bị đơn ông Lê Văn K trình bày:

Diện tích đất mà Tổ hợp tác khởi kiện yêu cầu ông trả tiền lúa nước là do ông thuê của ông Trần Văn H1, nằm trong tiểu vùng do Tổ hợp tác phục vụ. Từ vụ Đông Xuân năm 2018 đến vụ T năm 2019 ông chưa trả tiền phục vụ tưới, tiêu. Ông thừa nhận có sử dụng nước do Tổ hợp tác phục vụ và đồng ý trả tiền lúa nước cho T1 hợp tác nhưng chỉ trả 50% mức thu đối với diện tích 34 công tầm cắt (tương đương 44.064m²) do ông phải bợm nước cấp 2 trong tổng diện tích 64.998m². Yêu cầu khấu trừ vào tiền chia lợi nhuận từ cổ phần của ông từ năm 2018 đến năm 2021 là 12 vụ thành tiền 120.000.000 đồng (mỗi vụ 10.000.000 đồng). Ông không tranh chấp gì đối với M nước T. Ông thừa nhận đã nhận số tiền 60.000.000 đồng vào ngày 28/10/2021.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn K là Luật sư Phan Văn B trình bày:

Ông K có sử dụng dịch vụ do Tổ hợp tác phục vụ tưới tiêu và đồng ý trả tiền lúa nước theo yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông K phải dùng máy bơm nước cấp 2 đối với diện tích 34 công tầm cắt (tương đương 44.064m²) trong tổng diện tích 64.998m² nên yêu cầu chỉ trả 50% mức thu đối với diện tích 34 công tầm cắt (tương đương 44.064m²).

Về Mương nước Tư Thông không yêu cầu gì. Về số tiền 70.000.000 đồng theo đơn phản tố ngày 19/01/2023 không tranh chấp.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án:

- Nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Tổ hợp tác là có cở sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc ông Lê Văn K phải có trách nhiệm trả cho Tổ hợp tác nông nghiệp Bờ Dâu chi phí phục vụ tưới, tiêu là 45.856.000 đồng. Đình chỉ yêu yêu khởi kiện đối với số tiền 26.649.220 đồng.

- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

- Về án phí dân sự và chi phí tố tụng: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả chi phí phục vụ tưới, tiêu, căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ tưới tiêu”. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý giải quyết là đúng với quy định pháp luật.

[1.2] Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Văn K có đơn yêu cầu Luật sư Phan Văn B tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông K. Căn cứ Điều 75 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận Luật sư Phan Văn B tham gia vụ án với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Lê Văn K.

[1.3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến xét xử vụ án.

[1.4] Về những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh: Tổ hợp tác và ông K thống nhất diện tích đất ông K canh tác là 64.998m² nằm trong tiểu vùng do Tổ hợp tác phục vụ. Diện tích đất đã liệt kê trong biên bản gặp gỡ, đối thoại tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 28/10/2021 không nằm trong tổng diện tích đất 64.998m² ông K đã thuê của ông H1. Ông K chưa trả tiền phục vụ tưới tiêu từ vụ Đông Xuân năm 2017 đến vụ T năm 2019. Đơn giá phục vụ tưới tiêu của vụ Đông X là 130.000đ/1.000m², vụ Hè Thu là 130.000đ/1.000m², vụ Thu Đ là 150.000đ/1.000m². Xét thấy, đây là các tình tiết không cần phải chứng minh do các đương sự đã thống nhất được quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào lời khai thống nhất nêu trên của đương sự để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tổ hợp tác dịch vụ tưới, tiêu nông nghiệp Bờ Dâu được thành lập vào ngày 09/01/2018, mục đích hoạt động dịch vụ bơm tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong tiểu vùng đê bao khép kín đoạn từ Tây kênh 10 – Đông kênh 11 – Nam V – Bắc kênh 10 thuộc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Trước đây, Tổ hợp tác với chính quyền địa phương có họp dân và được người dân thống nhất sử dụng dịch vụ tuy nhiên giữa Tổ hợp tác với người dân không ký hợp đồng dịch vụ. Xét thấy, hình thức của hợp đồng không bắt buộc bằng văn bản, người dân có thể sử dụng dịch vụ tưới, tiêu bằng hành vi cụ thể. Ông K đã thống nhất sử dụng dịch vụ của Tổ hợp tác thông qua việc sử dụng nguồn nước do Tổ hợp tác cung cấp và thống nhất theo đơn giá phục vụ tưới tiêu từng vụ. Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119 và Điều 513 của Bộ luật Dân sự thì hợp đồng dịch vụ tưới tiêu giữa Tổ hợp tác với ông K đã được xác lập. Vì vậy, giữa Tổ hợp tác với ông K đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ.

[2.2] Ông K và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông thống nhất có canh tác diện tích đất như Tổ hợp tác yêu cầu, có sử dụng nước đồng ý trả tiền lúa nước nhưng chỉ trả 50% mức thu đối với diện tích 34 công tầm cắt (tương đương 44.064m²) do ông K phải bợm nước cấp 2 trong tổng diện tích 64.998m². Yêu cầu khấu trừ vào tiền chia lợi nhuận từ cổ phần của ông từ năm 2018 đến năm 2021 là 12 vụ thành tiền 120.000.000 đồng (mỗi vụ 10.000.000 đồng). Ông không tranh chấp gì đối với M nước T.

Ông K trình bày diện tích 44.064m² (tương đương 34 công tầm cắt) ông phải bơm nước cấp 2 nên chỉ đồng ý đóng 50% mức thu so với cấp 1 nhưng không có chứng cứ chứng minh. Mặc khác theo biên bản xác minh ngày 30/11/2023 ông Dương Văn N trình bày: ông có một phần đất nông nghiệp khoảng 20 công tầm cắt tại khu vực kênh A, mương T thuộc ấp B, xã T tiếp giáp với phần đất của ông Trần Văn H1, ông bắt đầu canh tác từ năm 1993 đến nay, ông có thấy ông K bơm nước cấp 2 được vài vụ, diện tích khoảng 14 công tầm cắt. Do đó Tổ hợp tác yêu cầu ông K trả tiền lúa nước diện tích đất nông nghiệp 64.998m². Trong đó diện tích 14 công tầm cắt (tương đương 18.144m²) ông K bơm nước cấp 2 nên chỉ yêu cầu thu 50% là có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu khấu trừ vào tiền chia lợi nhuận từ cổ phần của ông từ năm 2018 đến năm 2021 là 12 vụ thành tiền 120.000.000 đồng (mỗi vụ 10.000.000 đồng). Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án ông K không có đơn yêu cầu phản tố đối với số tiền chia lợi nhuận cổ phần 120.000.000 đồng (mỗi vụ 10.000.000 đồng) vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đối với yêu cầu của ông. Mặc khác, tại Biên bản về việc gặp gỡ, đối thoại giữa ông Lê Văn K và ông Lê Văn D, Nguyễn Văn T ngày 28/10/2021 thể hiện: “Qua trao đổi, gặp gỡ đối thoại được UBND xã phân tích, giải thích rõ về qui định của pháp luật ông Lê Văn K, ông Lê Văn D, ông Nguyễn Văn T cùng đi đến thống nhất như sau: Ông Lê Văn D, ông Nguyễn Văn T thống nhất giao số tiền 60.000.000 đồng/77.589.000 đồng/140.000.000 đồng cho ông Lê Văn K, kết thúc chấm dứt việc tranh chấp Hợp đồng hợp tác góp vốn cổ phần và không còn tranh chấp tiền lúa nước với ông K. Ông Lê Văn K thống nhất đồng ý nhận số tiền 60.000.000 đồng/77.589.000 đồng/140.000.000 đồng của ông Lê Văn D, ông Nguyễn Văn T đã giao trả vốn góp cổ phần của tôi lúc ban đầu, kết thúc chấp dứt việc tranh chấp Hợp đồng hợp tác...”. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông K.

[3] Về chí phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng Tổ hợp tác đã tạm ứng. Do yêu cầu khởi kiện của Tổ hợp tác được chấp nhận nên ông K phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Tổ hợp tác theo quy định tại Điều 157 và khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

[4.1] Tổ hợp tác được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận.

[4.2] Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì ông K là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí. Tuy nhiên, ông K không có đơn đề nghị miễn án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, vì vậy ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 244, Điều 264, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 357, Điều 468, Điều 513, Điều 515 và Điều 519 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu ông Lê Văn K trả số tiền 26.649.220 đồng (hai mươi sáu triệu, sáu trăm bốn mươi chín nghìn, hai trăm hai mươi đồng).

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tổ hợp tác dịch vụ tưới, tiêu nông nghiệp Bờ Dâu.

Buộc ông Lê Văn K có nghĩa vụ trả cho T1 hợp tác dịch vụ tưới, tiêu nông nghiệp Bờ Dâu gồm các ông: Lê Văn D; Nguyễn Văn T; Nguyễn Chí H số tiền 45.856.000 đồng (bốn mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn K phải có trách nhiệm hoàn trả cho Tổ hợp tác dịch vụ tưới, tiêu nông nghiệp Bờ Dâu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.000.000đ (một triệu đồng).

4. Về án phí dân sự:

Ông Lê Văn K phải chịu 2.292.000 đồng (hai triệu, hai trăm chín mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại Tổ hợp tác dịch vụ tưới, tiêu nông nghiệp Bờ Dâu gồm các ông: Lê Văn D; Nguyễn Văn T; Nguyễn Chí H tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.990.000 đồng (một triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0015354 ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt ó quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Lưu VP; hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hợp đồng dịch vụ tưới tiêu

  • Số bản án: 119/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ tưới tiêu
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng dịch vụ tưới tiêu (THT Bờ Dâu - Khương)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger