Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HSST

Ngày 06/8/2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Xuân Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Duyên

Ông Nguyễn Thanh Vũ.

- Thư ký phiên toà: Bà Mã Thùy Dung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2024/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Thị T; sinh ngày: 28 tháng 8 năm 1993 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng.

Nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1969 (đã chết) và bà Lê Thị T2, sinh năm 1971, địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Chồng: Lê Mạnh C, sinh năm 1991, địa chỉ: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Có 02 con, con lớn sinh năm 2017 con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thành phố C từ ngày 19/12/2023 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  1. Hoàng Thị L; sinh năm 1985; Địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng; (vắng mặt tại phiên tòa)
  2. Nguyễn Quốc C1; sinh năm 1983. Địa chỉ: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. (vắng mặt tại phiên tòa)
  3. Hoàng Văn T3; sinh năm 1982. Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng. (vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 15/12/2023, tổ công tác Đ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực cổng bến xe khách liên tỉnh thuộc Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đã phát hiện Hoàng Thị T (sinh năm 1993; HKTT: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) có hành vi mua bán các số lô, số đề trái phép. Cơ quan điều tra đã thu giữ: 02 (hai) tờ giấy khổ A4 ghi chép các chữ và số theo Hoàng Thị T trình bày là bảng tổng hợp số lô, số đề của ngày 15/12/2023, T nhận với khách đến ghi trực tiếp, được thu giữ trên bàn phía trước mặt Hoàng Thị T đang ngồi; 02 (hai) tờ giấy có ghi ngày 14/12/2023 và các con số cùng chữ ký của T, theo T trình bày là cáp đề trúng thưởng của ngày 14/12/2023 khách đem đến nhận thưởng. Tình trạng đã bị xé, được thu giữ trên bàn phía trước mặt Hoàng Thị T đang ngồi.; Số tiền 6.800.000 đồng (sáu triệu tám trăm nghìn đồng) được thu giữ tại túi áo khoác bên phải của Hoàng Thị T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI NOTE 9S, số IMEI: 860347047597376/00, màu xanh trắng, lắp sim điện thoại số 0388.919.xxx, tình trạng máy đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Từ khoảng cuối tháng 9/2023 Hoàng Thị T đăng ký làm đại lý bán vé xổ số cho Công ty xổ số kiến thiết tỉnh C thông qua tổng đại lý là ông Nguyễn Việt H (sinh năm 1984; HKTT: Phố D, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng). Buổi chiều hàng ngày Hoàng Thị T đi từ nhà tại Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đến khu vực cổng bến xe khách liên tỉnh thuộc địa phận Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng để ghi xổ số. Ngoài ra cùng thời điểm này Hoàng Thị T còn nhận ghi các số lô, số đề trái phép của khách khi khách có nhu cầu bằng hình thức là Hoàng Thị T sẽ trực tiếp ghi các số lô, số đề nhân với số tiền khách muốn chơi ra các tờ giấy nhỏ mà T đã chuẩn bị sẵn từ trước gọi là "cáp đề". Sau đó Hoàng Thị T sẽ dùng điện thoại để chụp ảnh lại cáp đề và đưa cáp đề cho khách để làm căn cứ trả thưởng, ngoài ra Hoàng Thị T còn nhận ghi số lô, số đề cho khách thông qua tin nhắn của ứng dụng zalo của Hoàng Thị T đăng nhập trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI NOTE 9S đăng ký bằng số điện thoại 0388.919.xxx. Sau khi nhận được tin nhắn chơi số lô, số đề của khách thì Hoàng Thị T sẽ nhắn tin trả lời "OK" đối với những tin nhắn Hoàng Thị T đồng ý ghi lô đề cho khách. Toàn bộ số lô, số đề mà T nhận ghi cho khách trong ngày thì Hoàng Thị T tổng hợp lại vào bảng và chuyển cho chủ đề là một người đàn ông khoảng 50 tuổi (bị cáo không biết tên, địa chỉ và số điện thoại liên lạc) cứ khoảng 18h hàng ngày thì người đàn ông nói trên sẽ đến bàn ghi xổ số của Hoàng Thị T để nhận bảng và giao dịch tiền trực tiếp.

Hình thức chơi số đề như sau: Người chơi sẽ chọn các số từ 00 đến 99, nếu số đề mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt Kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày thì được coi là trúng thưởng và được trả thưởng theo tỉ lệ gấp 70 lần số tiền đã mua. Nếu khách không trúng đề thì sẽ mất toàn bộ số tiền bỏ ra mua số đề. Khi thu tiền của khách mua số đề Hoàng Thị T thu 80% số tiền khách mua số đề và trích lại 20% cho khách chơi. Số tiền thu được từ bán số đề Hoàng Thị T chuyển 75% cho chủ đề và hưởng lợi 5% từ tổng số tiền thu được.

Hình thức chơi số lô như sau: Người chơi sẽ chọn các số từ 00 đến 99, nếu số lô người chơi mua trùng với hai số cuối của một trong 27 Kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày thì được coi là trúng thưởng và được trả thưởng 80.000,đ (tám mươi nghìn đồng) trên 01 điểm lô, nếu không trúng sẽ mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra mua số lô, số đề. Khi bán số lô Hoàng Thị T thu của khách 23.000 đồng/1 điểm lô và chuyển cho chủ lô là 22.000 đồng/1 điểm lô, Hoàng Thị T hưởng lợi 1.000 đồng/ 1 điểm lô.

Hình thức chơi số đề gồm ba chữ số (ba càng): Người chơi sẽ chọn các số từ 000 đến 999, nếu số ba càng mua trùng với ba số cuối của giải đặc biệt Kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày thì được coi là trúng thưởng và được trả thưởng theo tỉ lệ gấp 350 lần số tiền đã mua. Nếu khách không trúng đề thì sẽ mất toàn bộ số tiền bỏ ra mua số đề. Khi thu tiền của khách mua số đề Hoàng Thị T thu đủ số tiền khách mua số đề và chuyển 90% cho chủ đề và hưởng lợi 10% từ tổng số tiền thu được.

Hình thức chơi lô xiên: Khách tùy chọn các số lô và có thể chơi lô xiên 2, xiên 3, Nếu các số lô xiên khách mua trùng với hai số cuối của một trong 27 Kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày thì được coi là trúng thưởng, lô xiên 2 trúng thưởng sẽ được trả thưởng theo tỉ lệ 1 ăn 10 (gấp 10 lần số tiền khách bỏ ra mua số lô xiên 2); Lô xiên 3 trúng thưởng sẽ được trả thưởng theo tỉ lệ 1 ăn 40 (gấp 40 lần số tiền khách bỏ ra mua số lô xiên 3). Khi thu tiền của khách mua số lô xiên Hoàng Thị T thu đủ số tiền khách mua và chuyển 90% cho chủ đề và hưởng lợi 10% từ tổng số tiền thu được.

Trong ngày 14/12/2023, Hoàng Thị T ghi số lô, số đề cho 02 (hai) khách qua đường, những người này Hoàng Thị T không quen biết. Số tiền chơi số đề là 15.000 đồng và tổng số điểm lô là 15 điểm lô với số tiền là 345.000 đồng, trong đó trúng thưởng 08 điểm lô với số tiền trúng thưởng là 640.000 đồng. Tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 1.000.000 đồng, số tiền Hoàng Thị T được hưởng lợi là 15.750 đồng.

Ngày 15/12/2023, Hoàng Thị T ghi số lô, số đề cho 28 (hai mươi tám) trong đó có 25 người là những người qua đường và Hoàng Thị T không quen biết những người này. Số tiền ghi số đề là 3.149.000 đồng, số tiền chơi ba càng là 40.000 đồng, số tiền chơi lô xiên là 50.000 đồng, số điểm lô là 256 điểm bằng số tiền 5.888.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 9.127.000 đồng. Do Hoàng Thị T chưa chuyển số tiền trên cho chủ đề do vậy Hoàng Thị T chưa được hưởng lợi trong ngày 15/12/2023.

Quá trình điều tra làm rõ được 03 (ba) đối tượng có hành vi mua số lô, số đề với Hoàng Thị T trong ngày 15/12/2023 thông qua tin nhắn ứng dụng Zalo gồm:

  • Hoàng Thị L; sinh năm 1985; Địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng; chơi số lô, số đề với tổng số tiền là 253.000 đồng.
  • Nguyễn Quốc C1; sinh năm 1983. Địa chỉ: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Chơi số lô, số đề với tổng số tiền là 1.480.000 đồng.
  • Hoàng Văn T3; sinh năm 1982.Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Chơi số lô số đề với tổng số tiền là 80.000 đồng.

Bản cáo trạng số 110/CT-VKSTP ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng quyết định truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo cho biết bị cáo từ tháng 9/2023 bị cáo đăng ký làm đại lý bán vé số số cho Công ty S thông qua tổng đại lý là ông Nguyễn Việt H. Nhưng do muốn hưởng lợi bất chính nên bị cáo đã ghi số lô, đề trái phép và hàng ngày chuyển số lô, số đề và tiền cho một người đàn ông khoảng 50 tuổi, bị cáo không biết tên và địa chỉ hàng ngày đến khoảng 18h là người đàn ông đó trực tiếp đến lấy tiền và bảng đề.

Bị cáo không nhớ chính xác tổng số tiền đánh bạc nhưng xác nhận được cùng cán bộ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng tính toán số tiền, đã xem lại và ký xác nhận vào các bảng kê chi tiết số lô, số đề. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của mình, chiếc điện thoại di động của bản thân bị cơ quan công an thu giữ đã sử dụng vào việc nhận, chuyển số lô, số đề trái phép. Số tiền cơ quan điều tra đã thu giữ lúc bắt giữ là 6.800.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đây là tiền khách trả tiền mua số lô, số đề.

Đối với chiếc điện thoại bị thu giữ là tài sản cá nhân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

Người làm chứng Hoàng Thị L, Nguyễn Quốc C1, Hoàng Văn T3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án đều phù hợp với lời khai của bị cáo Hoàng Thị T và nội dung vụ án.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Thị T mức hình phạt tiền từ 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) đến 70.000.000 đồng (bẩy mươi triệu đồng)

Về vật chứng của vụ án:

Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 6.800.000,đ là số tiền bị cáo thu được do thực hiện hành vi phạm tội và phạm tội mà có. Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động REDMI NOTE 9S thu giữ của bị cáo là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Truy thu số tiền 15.750 đồng là tiền bị cáo hưởng lợi do thực hiện hành vi phạm tội.

Tại phần tranh luận, bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng về tội danh, hành vi phạm tội. Về mức hình phạt bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt tiền thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên. Ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác tranh luận.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai và có thái độ ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt nhẹ hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên và hứa sẽ không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, lời khai của những người làm chứng. Cụ thể như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Đ Công an thành phố C lập hồi 18 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, biên bản kiểm tra nội dung trong điện thoại và vật chứng thu giữ. Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh:

Hồi 18h15 Ngày 15/12/2023, tại khu vực Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Hoàng Thị T có hành vi tổ chức đánh bạc trái phép bằng hình thức bán các số lô, số đề cho 28 người chơi với tổng số tiền 9.171.000,₫ (Chín triệu một trăm bẩy mươi mốt nghìn đồng). Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra phát hiện ngày 14/12/2023, Hoàng Thị T có hành vi bán các số lô, số đề trái phép cho 02 người chơi với tổng số tiền đánh bạc là 1.000.000 đồng và bị cáo hưởng lợi 15.750 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán số lô, số đề trái phép là vi phạm quy định pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích hưởng lợi bất chính đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế - hành chính của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ.

Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Hình phạt chính:

Căn cứ vào nhân thân tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo phạm tội lần đầu với số tiền đánh bạc không lớn; mục đích chỉ nhằm hưởng lợi từ số tiền chênh lệch. Áp dụng hình phạt tù là quá nghiêm khắc đối với bị cáo, bị cáo có khả năng thi hành hình phạt tiền và bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000,đ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo biên lai số 0001045 ngày 02/8/2024 để chứng minh khả năng thi hành án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính và mức hình phạt khởi điểm theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng là tương xứng với hành vi phạm tội và đủ để răn đe, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, trở thành người công dân có ích.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Việc xử lý vật chứng:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét thấy: Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 6.800.000,đ là số tiền do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và phạm tội mà có. Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

[7]. Các nhận định khác:

Đối với những người ghi số lô, số đề trực tiếp với bị cáo, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ mở rộng điều tra vụ án.

Đối với hành vi của Hoàng Thị L, Nguyễn Quốc C1, Hoàng Văn T3 ghi số lô, số đề với Hoàng Thị T không cấu thành tội phạm. Công an thành phố C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 350.000,đ đối với mỗi người do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chủ đề là một người đàn ông khoảng 50 tuổi nhận bảng số lô, số đề và giao dịch tiền trực tiếp với Hoàng Thị T cơ quan điều tra không đủ căn cứ mở rộng điều tra vụ án.

Đối với số tiền 15.750 đồng bị cáo hưởng lợi xét thấy cần phải truy thu nộp ngân sách nhà nước.

[8]. Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T hình phạt chính số tiền 60.000.000,đ để nộp vào ngân sách nhà nước.

Xác nhận: Bị cáo Hoàng Thị T đã nộp số tiền 10.000.000,đ vào Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên lai thu tiền số 0001045 ngày 02/8/2024;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam: 6.800.000,đ thu giữ của bị cáo Hoàng Thị T;

Cơ quan Công an thành phố C đã chuyển số tiền Việt Nam: 6.800.000,₫ vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Ủy nhiệm chi số 30 ngày 17/7/2024.

Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước:

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI NOTE 9S, số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 860347047597376/00, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;

Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng số 140 ngày 25 tháng 7 năm 2024.

3. Truy thu số tiền 15.750 đồng là tiền bị cáo Hoàng Thị T được hưởng lợi bất chính từ hành vi phạm tội.

4. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Thị T phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lý Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HSST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về tổ chức đánh bạc

  • Số bản án: 119/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Tú tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số lô số đề trái phép
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger