TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU Bản án số: 119/2024/DS-ST Ngày 06 - 8 - 2024 Về việc tranh chấp hụi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Chi
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Châu Hoàng Huy
Ông Trịnh Thanh Trần
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hên– Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 203/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1970 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Bé D, sinh năm: 1985 (yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:
Ông có tham gia hụi do bà Phạm Thị Bé D làm chủ, bà D tuyên bố đình hụi nhưng không trả tiền hụi cho ông, ông có đòi nhiều lần thì bà D không trả. Ông tham gia dây hụi mở ngày 02 tháng 6 năm 2020 âm lịch, loại hụi 2.000.000đ/tháng, tổng số 37 chưng, ông tham gia 01 chưng, ông đã đóng hụi cho bà D 19 kỳ. Vì vậy ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện U Minh xem xét giải quyết buộc bà Phạm Thị Bé D phải có trách nhiệm trả cho ông số tiền là 38.000.000 (ba mươi tám triệu) đồng.
- Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 11/7/2024 bị đơn bà Phạm Thị Bé D trình bày:
Đối với dây hụi bà còn nợ ông Nguyễn Văn L số tiền hụi là 38.000.000 đồng, ông L yêu cầu bà trả tiền thì bà đồng ý trả cho ông L 38.000.000 đồng nhưng bà không có khả năng trả một lần mà yêu cầu được trả dần. Trường hợp ông L không đồng ý cho bà trả từ từ mà tòa án đưa vụ án ra xét xử thì bà yêu cầu Tòa án cho bà được vắng mặt khi giải quyết vụ án của bà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau trình bày quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến ngày đưa vụ án ra xét xử và mở phiên tòa Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 16, 18 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L. Buộc bà Phạm Thị Bé D trả cho ông Nguyễn Văn L số tiền hụi 38.000.000 đồng; về án phí: Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về lệ phí, án phí của Tòa án các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: ông Nguyễn Văn L khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị Bé D trả tiền hụi. Quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp hụi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà D yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt bà D theo quy định.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
Ông Nguyễn Văn L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị Bé D trả cho ông số tiền hụi là 38.000.000 đồng. Xét thấy, việc ông L tham gia dây hụi ngày 02 tháng 6 năm 2020 âm lịch do bà D làm chủ là có thật được bà D thừa nhận, bà D cũng xác định tổng số tiền hụi bà D còn nợ ông L là 38.000.000 đồng và đồng ý trả cho ông L. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L đối với bà Phạm Thị Bé D về việc yêu cầu trả tiền hụi là 38.000.000 đồng.
Bà D yêu cầu được trả tiền từ từ vì không có khả năng tra một lần nhưng ông L không đồng ý để bà D trả dần. Xét thấy, giữa các đương sự không thống nhất được phương thức trả tiền nên Hội đồng xét xử không xem xét, giữa ông L và bà D có quyền thỏa thuận phương thức trả tiền trong quá trình thi hành án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh là phù hợp nên được chấp nhận.
[3] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Phạm Thị Bé D phải chịu 38.000.000 đồng x 5% = 1.900.000 đồng. Ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí, ông L đã dự nộp được nhận lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 468; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L về việc yêu cầu bà Phạm Thị Bé D trả tiền hụi.
- Buộc bà Phạm Thị Bé D trả cho ông Nguyễn Văn L số tiền 38.000.000 (ba mươi tám triệu) đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- - Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Phạm Thị Bé D phải chịu 1.900.000 (một triệu chín trăm nghìn) đồng.
- Ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí, ông Nguyễn Văn L đã nộp tạm ứng án phí 950.000 (chín trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006590 ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được nhận lại.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ông L có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mộng C |
Bản án số 119/2024/DS-ST ngày 06/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hụi
- Số bản án: 119/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông L yêu cầu abf D trả 38.000.000 đồng
