|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 119/2025/HSST Ngày 27 - 6 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Phương;
- 2. Bà Trương Thị Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2025/HSST-QĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thành Q, giới tính: N, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ thường trú và cư trú: Số A P, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lê Văn Y và bà Đào Thị Ngọc M; Chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2024, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty Cổ phần T1; Địa chỉ trụ sở: Số R, Khu R, đường N khu H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Trần Việt Anh K; Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Bà La Chúc M1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số E L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Lê Thị Diễm P, sinh năm 2003; địa chỉ: Gấp P, xã H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- - Bà Phạm Thị C, sinh năm 1990; địa chỉ: D H, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- - Bà Ngô Thị Thu T, sinh năm 2000; địa chỉ: C H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Minh N1, sinh năm 1999; địa chỉ: C Khu N, số A Khu D, phường P, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần T1 đăng ký kinh doanh nhà hàng Ă, chi nhánh nhà hàng C.TAO-Bình Dương, địa chỉ: Số A N, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương và nhà hàng C1.TAO-HCM 2, địa chỉ: Số A T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Lê Thành Q được phân công quản lý tại nhà hàng C1.TAO-Bình Dương và C.TAO-HCM 2. Q có quyền hạn quản lý nhân viên, quản lý tài chính, quản lý hàng hóa, tài sản, giải quyết sự cố và khiếu nại của khách, quản lý đặt bàn, điều hành công việc, quản lý tiêu chuẩn phục vụ,... Quy trình tại nhà hàng: Khách có 02 hình thức thanh toán để lựa chọn, bằng thẻ tài khoản hoặc bằng tiền mặt. Nếu thanh toán bằng tài khoản Ngân hàng nhân viên sử dụng máy Post cà thẻ hoặc khách hàng chuyển khoản vào tài khoản của công ty. Nếu khách thanh toán bằng tiền mặt, nhân viên thu ngân thu tiền của khách cất vào két tại cửa hàng, đến 22 giờ hàng ngày, Q (quản lý nhà hàng) hoặc thu ngân tính toán lại tổng doanh thu trong ngày, làm báo cáo doanh thu gửi lên nhóm chat công ty. Doanh thu tiền mặt trong ngày sẽ cất giữ ở két tại nhà hàng, sáng hôm sau quản lý nhà hàng (Q) phải lấy số tiền mặt doanh thu đó nộp vào tài khoản Công ty với nội dung "nộp doanh thu tiền mặt trong ngày ...", nếu quản lý bận công việc thì giao lại cho thu ngân thực hiện. Nộp tiền xong phải chụp hình biên lai nộp tiền gửi lên nhóm cho giám đốc và kế toán biết, cụ thể số tiền chiếm đoạt:
Doanh thu tiền mặt của Nhà hàng C.TAO-HCM 2: ngày 24/3/2023 với số tiền mặt 9.708.600 đồng, ngày 25/3/2023 với số tiền mặt là 15.283.510 đồng và ngày 26/3/2023 với số tiền mặt là 13.725.400 đồng. Tổng số tiền mặt bị cáo chiếm đoạt là 38.717.510 đồng.
Doanh thu tiền mặt của Nhà hàng C1.TAO-Bình Dương: Ngày 24/3/2023 với số tiền mặt là 20.539.200 đồng; ngày 26/3/2023 với số tiền mặt là 31.667.295 đồng. Tổng số tiền mặt bị cáo chiếm đoạt là 52.206.495 đồng.
Ngày 27/3/2023, Lê Thành Q phải chuyển số tiền mặt 90.924.005 đồng vào tài khoản công ty. Tuy nhiên, Q không chuyển tiền vào tài khoản công ty, chiếm đoạt số tiền sử dụng cá nhân. Công ty phát hiện, Q cam kết sẽ hoàn trả trong 15 ngày. Đến ngày 17/4/2023, Q khắc phục được 20.000.000 đồng. Trong thời gian chờ Q khắc phục, Công ty T1 vẫn cho Q tiếp tục quản lý 02 nhà hàng C.TAO-HCM 2 và C.TAO-Bình Dương.
Tiếp tục thủ đoạn chiếm đoạt tiền của nhà hàng như trên, Q không nộp tiền doanh thu từ 28/4/2023 đến ngày 03/5/2023 của nhà hàng C1.TAO-HCM 2 vào tài khoản công ty, cụ thể:
Ngày 28/4/2023 với số tiền mặt là 2.609.475 đồng; ngày 29/4/2023 với số tiền mặt là 16.793.700 đồng, ngày 30/4/2023 với số tiền mặt là 21.880.870 đồng; ngày 01/5/2023 với số tiền mặt là 17.844.200 đồng; ngày 02/5/2023 với số tiền mặt là 23.693.505 đồng; Ngày 03/5/2023 với số tiền mặt là 11.732.160 đồng. Tổng số tiền Q chiếm đoạt của Công ty Cổ phần T1 vào ngày 03/5/2023 là 94.553.910 đồng.
Đến ngày 03/5/2023, Q tự nghỉ việc, đi đâu không rõ. Đại diện Công ty T1 chị La Chúc M1 đến Công an phường T trình báo.
Lê Thành Q bỏ trốn khỏi nơi cư trú, ngày 23/9/2024 và ngày 26/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Q1 ra Quyết định truy nã, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị cáo. Ngày 07/10/2024, Lê Thành Q ra đầu thú.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Lê Thành Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.
* Về dân sự. Bị cáo Q đã tác động gia đình nộp lại số tiền 165.477.915 đồng bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại. Đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền 20.000.000 đồng do Q nộp lại và số tiền 165.477.915 đồng do Q tác động gia đình khắc phục hậu quả, bị hại không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q.
Bản cáo trạng số 32/CT-VKSQ7 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Thành Q về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận G giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thành Q tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Lê Thành Q đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mà Q có trách nhiệm quản lý của Công ty T1, tổng số tiền Q chiếm đoạt là 165.477.915 đồng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Thành Q về tội “Tham ô tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - Điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thành Q từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù;
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Q nhờ người thân nộp lại số tiền 165.477.915 đồng bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại. Đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q nên đề nghị không xét.
Bị cáo Lê Thành Q đã thừa nhận hành vi phạm tội “Tham ô tài sản” như đã nêu trên, không tranh luận gì, bị cáo biết lỗi và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận và biết lỗi; Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Lê Thành Q đã có hành vi lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong việc quản lý doanh thu tiền mặt của công ty, trong thời gian từ ngày 24/3/2023 đến ngày 03/5/2023, Q đã hai lần chiếm đoạt tiền mặt doanh thu của Công ty Cổ phần T1 mà Q có trách nhiệm quản lý, cụ thể: Lần 1, vào ngày 27/3/2023 Q có nghĩa vụ nộp vào tài khoản công ty với tổng số tiền doanh thu từ ngày 24/3/2023 đến ngày 26/3/2023 là 90.924.005 đồng; Lần 2, vào ngày 04/5/2023, Q có nghĩa vụ nộp vào tài khoản công ty với tổng số tiền doanh thu từ ngày 28/4/2023 đến ngày 03/5/2023 là 94.553.910 đồng. Nhưng Q không giao nộp số tiền trên về tài khoản công ty theo quy định mà chiếm đoạt sử dụng vào mục đích cá nhân. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Bị cáo Lê Thành Q là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và tài sản của các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Trong thời gian công ty cho cơ hội để bị cáo khắc phục hậu quả thì bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, cố tình bỏ trốn gây khó khăn, cản trở việc điều tra truy tố, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại với tổng số tiền 185. 477.915 đồng cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Công ty Cổ phần T1 đã nhận được số tiền 185.477.915 đồng là tiền do bị cáo bồi thường, đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Đối với hành vi của bà Ngô Thị Thu T và bà Lê Thị Diễm P là thu ngân của công ty Cổ phần T1. Tòa án đã tiến hành trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ hành vi của bà T, bà P trong vụ án có dấu hiệu tội phạm hay không. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân Quận G xác định không có căn cứ xử lý hình sự đối với bà T và bà P. Do đó, căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử không xét.
[7] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Bị cáo Lê Thành Q 07 (Bảy) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/10/2024.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Thành Q phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 333, khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Bị cáo Lê Thành Q và bị hại có mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Luyến |
Bản án số 119/2025/HSST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tham ô tài sản (hình sự)
- Số bản án: 119/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Thành Q 07 năm tù về tội "Tham ô tài sản"
