Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 119/2025/HSST

Ngày: 04-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Phước

Bà Nguyễn Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa:

Ông Nguyễn Thành Quang - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2025/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn H, sinh năm 1988; Nơi sinh; Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 1 L, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: P, F ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn L (chết) và bà Quách Thị Y, sinh năm 1966; Có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/7/2004 bị bắt đưa đi vào trường G, L, Đồng Nai, thời gian 18 tháng; Ngày 05/3/2007 Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù theo Bản án số 46/2007/HSST, chấp hành xong ngày 14/01/2012; Ngày 20/5/2014, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 09 tháng tù theo Bản án số 143/2014/HSST, chấp hành xong ngày 03/10/2014, đã đóng án phí, đã xóa án tích; Bị bắt tạm giam từ ngày 15 tháng 3 năm 2024. (Có mặt)

Bị hại:

Bà Doãn Thị Kiều T; Địa chỉ: 6 Quốc lộ A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Đình N; Địa chỉ: C đường L, phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  2. Ông Ngô Văn K; Địa chỉ: A T, phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 07/3/2024, Phạm Văn H điều khiển xe mô tô hiệu SYM, biển số 54R3- 0296, mang theo 01 kềm cộng lực để trong ba lô đi từ huyện H, T1 phô Hồ Chí M đến địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến trước nhà số F Quốc lộ A, phường H, thành phố T thì phát hiện cửa nhà đóng cửa bấm ổ khóa ngoài, không có người bên trong nên H dùng kềm cộng lực cắt ổ khóa cửa rồi đi vào bên trong phòng khách lục soát đồ đạc nhưng không phát hiện tài sản có giá trị. Hên tiếp tục đi bộ lên lầu một, vào phòng ngủ lấy một laptop hiệu Macbook màu hồng, 01 laptop hiệu Dell màu đen rồi lên lầu hai, vào phòng ngủ lấy thêm 01 laptop hiệu Asus màu trắng. Sau khi lấy trộm 03 laptop trên, H đem tài sản bị chiếm đoạt đến cửa hàng T2 tại số D đường T, phường H, quận T bán cho anh Trần Đình Nghĩa L1 chủ cửa hàng. H nói với anh N 03 laptop này là H mua của người bán dạo ngoài đường nên anh N mua 03 laptop với giá 4.000.000 đồng. H đã tiêu xài hết 500.000 đồng, còn 3.500.000 đồng. Khoảng 18 giờ ngày 07/3/2024, chị Doãn Thị Kiều T là chủ nhà số 668/35/5/18 Quốc lộ A, phường H, thành phố T, phát hiện cửa nhà bị phá khóa cửa chính, mất trộm 03 máy laptop nên đã đến Công an phường H trình báo sự việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã xác định được Phạm Văn H là đối tượng trộm cắp tài sản của chị T nên đã đưa H về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an thành phô T, Phạm Văn H thưa nhận toàn bộ hành vi đột nhập vào nhà chị Doãn Thị Kiều T để trộm cắp tài sản.

Kết luận định giá tài sản số 162-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: - 01 laptop hiệu Macbook Air M1, Ram 8GB, dung lượng 256GB màu hồng trị giá 15.500.000 đồng; - 01 laptop hiệu ASUS Vivobook core i5, Ram 8GB, dung lượng 512 GB trị giá 7.967.000 đồng; - 01 laptop hiệu Dell E6220 core 15, Ram 4GB, dung lượng 250GB trị giá 5.000.000 đồng; Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 28.467.000 đồng.

Lời khai của anh Trần Đại N1, chủ của hàng Thành Tín, anh N1 khai không biết 03 laptop mà H đem đến bán là tài sản do trộm cắp mà có, do H khi đến bán không nói về nguồn gốc của máy. Ngày 08/3/2024, anh N1 đã bán 01 laptop hiệu Dell và 01 laptop hiệu ASUS, còn 01 máy laptop hiệu Macbook Air M1 chưa bán được. Ngày 09/3/2024, anh N1 đã giao nộp lại 01 laptop Macbook Air M1 là vật chứng của vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 laptop hiệu Macbook Air M1 màu hồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi và trả lại cho chị Doãn Thị Kiều T;
  • - 01 laptop hiệu Asus Vivobook màu bạc và 01 laptop hiệu Dell E6220 màu đen chưa thu hồi được;
  • - 01 xe mô tô hiệu SYM, màu đen, BS: 59R4-0296, H khai mua xe này ở huyện B, không có giấy tờ xe với giá 2.500.000 đồng. Xác minh chủ sở hữu, ông Ngô Văn K khai đã bán xe mô tô này vào năm 2014 tại một của hàng xe máy ở quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, không nhớ địa chỉ cửa hàng, không làm thủ tục sang tên đổi chủ mà chỉ có làm Giấy ủy quyền, hiện giấy tờ ủy quyền ông K đã làm thất lạc;
  • - 01 kềm cộng lực không nhãn hiệu màu đỏ đen là công cụ gây án; 01 ba lô vải màu đen, 01 ba lô vải màu trắng, 01 áo khoác đen có ba sọc trắng, 01 nón bảo hiểm màu xám bạc, 01 áo thun cổ tròn màu xám tro, 01 điện thoại di động Vivo màu xanh đen;
  • - Tiền Việt Nam 3.500.000 đồng hiện đã nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
  • - 01 đĩa DVD ghi nhận lại nội dung sự việc trộm cắp tài sản; 01 USB ghi nhận lại nội dung sự việc đối tượng mang tài sản đi tiêu thụ;

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Doãn Thị Kiều T yêu cầu Phạm Văn H bồi thường số tiền 12.967.000 đồng là giá trị thiệt hại của 01 laptop hiệu Asus và 01 laptop hiệu Dell theo Kết luận định giá tài sản sô 162-KV3/KL-HĐĐG IS ngày 25/3/2024:

Anh Trân Đình N2 không yêu cầu Phạm Văn H bôi thường số tiền 4.000.000 đồng;

Bản cáo trạng số 36/CT-VKSTPTĐ ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Văn H mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Về bồi thường thiệt hại: Buộc Phạm Văn H bồi thường cho bị hại Doãn Thị Kiều T số tiền 12.967.000 đồng; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ để kết luận, vào lúc 12 giờ ngày 07/3/2024, Phạm Văn H đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà của chị Doãn Thị Kiều T số 668/35/5/18 Quốc lộ A, phường H, thành phố T chiếm đoạt 03 laptop giá trị là 28.467.000 đồng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn động cơ cá nhân, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[3] Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây mất trật tự, an toàn xã hội do đó cần thiết phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiêt tăng nặng

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:

  • - 01 laptop hiệu Asus Vivobook màu bạc và 01 laptop hiệu Dell E6220 màu đen chưa thu hồi được; - 01 laptop hiệu Macbook Air M1 màu hồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi và trả lại cho chị Doãn Thị Kiều T nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - 01 xe mô tô hiệu SYM, màu đen, BS: 59R4-0296, H khai mua xe này ở huyện B, không có giấy tờ xe với giá 2.500.000 đồng. Xác minh chủ sở hữu, ông Ngô Văn K khai đã bán xe mô tô này vào năm 2014 tại một của hàng xe máy ở quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, không nhớ địa chỉ cửa hàng, không làm thủ tục sang tên đổi chủ mà chỉ có làm Giấy ủy quyền, hiện giấy tờ ủy quyền ông K đã làm thất lạc vì vậy cần thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng, trong hạn trên ai chứng minh là chủ sở hữu, quản lý hợp pháp thì trả lại, quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
  • - 01 kềm cộng lực không nhãn hiệu màu đỏ đen là công cụ gây án; 01 ba lô vải màu đen, 01 ba lô vải màu trắng, 01 áo khoác đen có ba sọc trắng, 01 nón bảo hiểm màu xám bạc, 01 áo thun cổ tròn màu xám tro không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
  • - 01 điện thoại di động Vivo màu xanh đen không liên quan đến vụ án cần trả cho bị cáo
  • - 3.500.000 đồng cần trả lại cho bị hại Doãn Thị Kiều T.
  • - 01 đĩa DVD ghi nhận lại nội dung sự việc trộm cắp tài sản; 01 USB ghi nhận lại nội dung sự việc đối tượng mang tài sản đi tiêu thụ tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

[8] Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Bị cáo phải bồi thường cho bị hại Doãn Thị Kiều T số tiền 12.967.000 đồng, được trừ số tiền 3.500.000 đồng; bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại Doãn Thị Kiều T 9.467.000 đồng.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 473.350 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.

2. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự:

Buộc bị cáo Phạm Văn H bồi thường cho chị Doãn Thị Kiều T 9.467.000 (Chín triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Trả cho chị Doãn Thị Kiều T số tiền 3.500.000 (Ba triệu năm trăm nghìn) đồng.
  • (Giấy nộp tiền mặt vào Kho bạc nhà nước T3 ngày 26/12/2024 tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T4 theo Quyết định chuyển vật chứng số 349/QĐ-VKSTPTĐ ngày 23/9/2024)
  • - Trả cho bị cáo Phạm Văn H 01 điện thoại di động Vivo màu xanh đen;
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 kềm cộng lực không nhãn hiệu màu đỏ đen; 01 ba lô vải màu đen, 01 áo khoác đen có ba sọc trắng, 01 nón bảo hiểm màu xám bạc, 01 áo thun cổ tròn màu xám tro;
  • - Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu 01 xe 01 xe mô tô hiệu SYM, màu đen, biển số: 54R3-0296, số máy: VDGZS152FMHN106051, số khung: RNDWCH0ND91R06051; Trong thời hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu, quản lý hợp pháp thì trả lại, quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
  • (Quyết định chuyển vật chứng số 349/QĐ-VKSTPTĐ ngày 23/9/2024; Phiếu nhập kho ngày 03/10/2024; Biên bản giao nhận tang, tài vật ngày 31/12/2024)

4. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 473.350 (Bốn trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Trại giam và bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2025/HSST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 119/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Hên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger