|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 119/2025/HS-ST Ngày 19-6-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Đậm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Ngô Thế Bình; tên gọi khác: Hiếu, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1966, tại: Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số 10/3 Dư Hàng, Lê Chân, Hải Phòng (nay là 10/3 Bờ mương, Hồ Sen, Dư Hàng, Lê Chân, Hải Phòng); chỗ ở: B12D/14A Liên ấp 1-2-3, ấp 25, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 3/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Ngô Thế Chiêm và bà Phạm Thị Nguyệt (đều đã chết); vợ là Nguyễn Thị Hái; có 02 con; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 179 ngày 30/6/1990 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt Ngô Thế Bình 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản của công dân (đã xóa án tích); tiền sự: Không; bị cáo bị bắt truy nã từ ngày 15/12/2024, tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 26/12/2024 chuyển tạm giam, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Thế Bình: Ông Nguyễn Hồng Đức, Luật sư Công ty Luật Phú Đức, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, có mặt.
- Bị hại: Bà Đỗ Thị Riêng, sinh năm 1946; địa chỉ: Số 1 lô D phường Cát Bi, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Lê Văn Lành, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 23/4/1992, Vũ Văn Tuấn (tên gọi khác Tuấn Điện), sinh năm 1971, trú tại: Số 19 Cửa Nam, Hà Nội; Ngô Thế Bình (tên gọi khác Hiếu béo) và Đỗ Văn Ngọ (tên gọi khác Ngọ Chột), sinh năm 1966, trú tại: Số 1/13 Miếu Hai Xã, Dư Hàng, Lê Chân, Hải Phòng gặp nhau tại nhà Lê Văn Lành (tên gọi khác Giới), sinh năm 1966, trú tại: xã An Hồng, An Dương, Hải Phòng cùng nhau bàn bạc mua súng để đi cướp xe máy lấy tiền tiêu xài. Cả nhóm đồng ý và phân công Lành tìm chỗ mua súng ngắn, Bình là người sử dụng súng để đe dọa bị hại, Tuấn là người cướp xe. Sau đó, Lành tìm gặp Phạm Bá Tuyến, sinh năm 1969, trú tại: An Hưng, An Hải, Hải Phòng, Tuyến dẫn Lành đến gặp Vũ Duy Tĩnh, sinh năm 1962, trú tại: Số 4/3 Nguyễn Trãi, Ngô Quyền, Hải Phòng để mua một khẩu súng loại K54 với giá 800.000 đồng. Khoảng 12 giờ ngày 23/4/1992, Tuấn, Ngọ, Lành, Bình ra khu vực Quán Toan đi xe ô tô vào nội thành Hải Phòng mục đích cướp tài sản. Khi đi đến vườn hoa trung tâm thành phố Tuấn không cho Ngọ đi cướp cùng vì Ngọ đang có lệnh truy nã nên dễ bị lộ, rồi tất cả xuống xe để đi xích lô đến nhà Phạm Văn Hùng (tức Hùng già), sinh năm 1961, trú tại: Số 42 lô 8 khu D Cát Bi, Hải Phòng. Tại nhà Hùng,Tuấn, Lành, Bình bàn nhau đi cướp và mang súng ngắn ra hướng dẫn nhau sử dụng, Hùng nhìn thấy nhóm của Tuấn có súng, nhưng không nói gì. Đến 19 giờ cùng ngày, Tuấn, Lành, Bình đi bộ đến đường Ngô Gia Tự - Cát Bi phát hiện thấy 01 xe máy đời 87 - 70 cm3 màu xanh dựng trước cửa nhà, nhóm của Tuấn đứng ngoài chờ thời cơ để cướp. Khoảng 10 phút bà Đỗ Thị Riêng chủ xe trong nhà đi ra đang cắm chìa khóa vào xe máy thì Bình xông ra rút súng dí vào người bà Riêng đẩy bà ra khỏi xe, Tuấn lao vào cướp xe nổ máy chở Lành và Bình chạy ra đường Lạch Tray rồi đi về Quán Toan, đi xe máy về nhà chị Nguyễn Thị Cúc, 32 tuổi, trú tại Đội 5 xã An Hồng, An Hải là người quen của Lành xin ngủ nhờ. Sau đó, Tuấn mang xe máy đi nhờ người bán hộ rồi lấy tiền chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 06/4/1993, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tuyên phạt: Lê Văn Lành 14 năm tù về tội Cướp tài sản của công dân và 05 năm tù về tội Mua bán trái phép vũ khí quân dụng, tổng hợp hình phạt chung là 19 năm tù; Đỗ Văn Ngọ 08 năm tù về tội Cướp tài sản của công dân, 02 năm tù về tội Mua bán trái phép vũ khí quân dụng, tổng hợp hình phạt chung là 10 năm tù; Vũ Văn Tuấn 09 năm tù về tội Cướp tài sản của công dân, 03 năm tù về tội Mua bán trái phép vũ khí quân dụng, tổng hợp hình phạt chung là 12 năm tù; Phạm Bá Tuyển 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép vũ khí quân dụng; Phạm Văn Hùng 12 tháng tù về tội Không tố giác tội phạm.
Sau khi phạm tội, Ngô Thế Bình bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 15/12/2024, Bình bị Công an TP. Hạ Long, Quảng Ninh bắt di lý về Công an thành phố Hải Phòng. Tại Cơ quan điều tra Ngô Thế Bình khai nhận: Bản thân có thông tin về nhân thân lai lịch theo đúng như trong Lệnh truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an TP Hải Phòng. Đối với toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân Cướp tài sản công dân vào năm 1992, bị can Bình không nhớ được cụ thể nội dung do thời gian lâu trí nhớ kém và bị tai nạn lao động (Bút lục: 43-59). Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của Vũ Văn Tuấn, Lê Văn Lành (Bút lục: 64-69, 85-88, 90-106, 114-140), Bản án hình sự sơ thẩm số 89 ngày 06/4/1993, xác định ngày 23/4/1992, tại khu vực đường Ngô Gia Tự, Cát Bi, Ngô Quyền, Ngô Thế Bình cùng Vũ Văn Tuấn, Đỗ Văn Ngọ, Lê Văn Lành đã cướp xe máy BKS 15A-6034 (dạng xe 70 đời 87) màu xanh của bà Đỗ Thị Riêng.
Vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 89 ngày 06/4/1993 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Tại Cáo trạng số 116/CT-VKSHP-P3 ngày 04 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Ngô Thế Bình về tội Cướp tài sản của công dân theo điểm a, d khoản 2 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1985 ( được sửa đổi năm 1989).
Tại phiên tòa, Ngô Thế Bình khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, phân tích hành vi phạm tội đánh giá tính chất vụ án, xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 151 Bộ luật hình sự anwm 1985 (sửa đổi, bổ sung năm 1989); điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Ngô Thế Bình từ 07 năm đến 08 năm tù về tội Cướp tài sản của công dân.
Vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 89 ngày 06/4/1993 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Luật sư không tranh luận với Viện Kiểm sát về tội danh, điều luật truy tố, Luật sư có quan điểm tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có công cách mạng, bố bị cáo là Đảng viên được tặng huy hiệu 50 năm tuổi đảng, mẹ đẻ bị cáo tham gia kháng chiến và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng nhì, bản thân bị cáo sau khi bị tai nạn giao thông sức khoẻ yếu, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh : Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo đã xét xử trước, phù hợp lời khai bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 23/4/1992, Ngô Thế Bình, Lê Văn Lành, Vũ Văn Tuấn, Đỗ Văn Ngọ đã cùng nhau bàn bạc, phân công trách nhiệm, chuẩn bị công cụ để thực hiện hành vi cướp tài sản. Đến 19h30' cùng ngày tại khu vực đường Ngô Gia Tự, Cát Bi, Ngô Quyền, Hải Phòng Ngô Thế Bình cùng đồng phạm đã có hành vi cướp của bà Đỗ Thị Riêng 01 xe máy BKS 15A-6034 (dạng xe 70 đời 87) trị giá 3,2 cây vàng.
Hành vi của bị cáo Ngô Thế Bình đủ yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản của công dân quy định tại Điều 151 Bộ luật hình sự năm 1985 (được sửa đổi năm 1989).
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo trước khi thực hiện hành vi phạm tội có bàn bạc chuẩn bị hung khí, phân công nhiệm vụ từng người, như vậy hành vi phạm tội của bị cáo là có tổ chức vi phạm điểm a khoản 2 Điều 151 Bộ luật Hình sự. Tài sản bị cáo chiếm đoạt là chiếc xe mô tô trị giá 3,2 cây vàng tại thời điểm đó được xác định là tài sản có giá trị lớn nên hành vi của bị cáo vi phạm điểm d khoản 2 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1985 (được sủa đổi năm 1989).
a) Có tổ chức
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá lớn..”
Về tình tiết sử dụng hung khí, tài liệu điều tra không xác định được bị cáo dùng hung khí nên bị cáo không phải chịu tình tiết định khung “dùng hung khí”.
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1985 (được sửa đổi năm 1989) là đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
[4] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an địa phương nên phải xử phạt nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có công cách mạng, mẹ đẻ bị cáo tham gia kháng chiến và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ chấp nhận.
[8] Xét vai trò của bị cáo: Trong vụ án có đồng phạm, Hội đồng xét xử phân hoá các bị cáo như sau:
Bị cáo Ngô Thế Bình là người trực tiếp đe doạ tấn công bị hại, bị cáo Vũ Văn Tuấn (đã xét xử) là người trực tiếp xông vào lấy tài sản như vậy vai trò bị cáo Bình ngang với bị cáo Vũ Văn Tuấn.
[9] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo Ngô Thế Bình mức án trên khởi điểm của khung hình phạt mới tương xứng với vai trò và hành vi phạm tội của bị cáo.
[10] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã được giải quyết tại bản án số 89 ngày 06/4/1993 nên không xem xét giải quyết.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[13] Các vấn đề khác: Đối với việc mua và sử dụng súng, quá trình điều tra không thu được vật chứng, không có kết luận giám định và trong Quyết định khởi tố bị can đối với Ngô Thế Bình không khởi tố về hành vi mua bán sử dụng súng. Vụ án xảy ra từ ngày 23/4/1992 nên đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 151 Bộ luật hình sự năm 1985 (được sửa đổi năm 1989); điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Thế Bình phạm tội Cướp tài sản của công dân. Xử phạt Ngô Thế Bình 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Ngô Thế Bình phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 119/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cướp tài sản của công dân (vụ án hình sự)
- Số bản án: 119/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản của công dân (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 7 năm tù
