|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2025/HS-ST
Ngày: 06 - 3 -2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan
- Ông Nguyễn Ngọc Tuyên
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký TAND thành phố TH.
- - Đại diện VKSND thành phố TH tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh T - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo: Nguyễn Mạnh H; sinh ngày: 20/3/1990 tại TH, Số CCCD: [...]; Nơi ĐKNKT: Số nhà A T, phường P, thành phố T, tỉnh TH; Chỗ ở hiện nay: Số nhà D N, phường Q, thành phố T, tỉnh TH; Con ông: Nguyễn Mạnh H1 và Con bà: Lê Thị H2; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; có vợ: Lê Thị T1 và có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2021. Tiền án: Năm 2017 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Năm 2018 bị Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 25 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù của Bản án năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá là 40 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 19/01/2020; Năm 2022 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, Chấp hành xong án phạt tù ngày 13/7/2023. Tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2012, bị Công an phường T, thành phố T, tỉnh TH xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; Năm 2020 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khoẻ của người khác”; Năm 2022 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khoẻ của người khác”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/12/2024 đến ngày 19/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 08/12/2024 tại số nhà D N, phường Q, thành phố T, do bản thân muốn sử dụng ma tuý Nguyễn Mạnh H đã rủ vợ là Lê Thị T1, sinh năm 1992, trú tại thôn Y, xã Đ, thành phố T cùng tham gia sử dụng. Lúc này T1 đang ở dưới phòng bếp H nói “Có làm tí không”, T1 hiểu ý H là rủ mình cùng sử dụng ma tuý, nhưng do đang mệt nên T1 nói với H là không sử dụng. Thấy vậy H lấy chai nước lọc trong tủ lạnh tại phòng bếp đem lên phòng ngủ của hai vợ chồng trên tầng 2, rồi lấy 01 viên thuốc lắc cất giấu trong lọ kẹo cao su để trong ngăn kéo phòng ngủ, bẻ thành hai phần, H sử dụng một phần viên ma tuý bằng cách uống cùng nước lọc, một phần còn lại H để trên mặt loa cạnh giường rồi nằm xuống giường. Khoảng 10 phút sau T1 đi vào phòng, ngồi xuống giường phía dưới chân H, thấy vậy H tiếp tục rủ T1 sử dụng ma tuý, H chỉ tay về vị trí phía để phần thuốc lắc còn lại ở trên mặt loa kệ tủ và nói “Còn tí chơi hết đi, không lỡ may có việc chỉ” thấy H nói vậy T1 đi về phía vị trí để phần thuốc lắc còn lại trên mặt loa, rồi tự cầm phần thuốc lắc sử dụng cùng với nước lọc do H đem lên và nằm xuống giường. Lúc này H sử dụng điện thoại Iphone 14 Pro Max của mình kết nối với loa bật nhạc để cho cả H và T1 cùng nghe. Được một lúc H dậy lấy gói ma tuý Ketamine bọc trong tờ tiền 2.000 Việt Nam đồng cất giấu trong lọ kẹo cao su để trong ngăn kéo phòng ngủ ra để sử dụng, H dùng bật lửa hơ nóng tờ tiền cùng ma tuý Ketamine bên trong, gạt một phần Ketamine ra đầu tờ tiền rồi đưa lên mũi sử dụng bằng cách hít. Sau khi sử dụng cho mình xong, H đưa tờ tiền chứa ma tuý Ketamine về phía T1 và nói “Chơi rồi thì làm tí ke này” ý H muốn nói: T1 đã sử dụng ma tuý là thuốc lắc rồi thì sử dụng thêm ma tuý Ketamine. Thấy H nói vậy T1 đồng ý và sử dụng móng tay út, bàn tay phải của mình xúc toàn bộ ma tuý Ketamine còn lại trong tờ tiền do H đang cầm đưa lên mũi sử dụng bằng cách hít. Khi T1 sử dụng xong ma tuý thì H đặt tờ tiền 2.000 Việt Nam đồng có chứa ma tuý Ketamine lên bàn rồi nằm xuống giường cùng T1 nghe nhạc. Đến 11 giờ ngày 09/12/2024 Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý và đội Quản lý hành chính Công an thành phố T phối hợp cùng Công an phường Q, thành phố T tiến hành kiểm tra hành chính tại số nhà D N, phường Q, thành phố T phát hiện Nguyễn Mạnh H và vợ là Lê Thị T1 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã đưa H và T1 về trụ sở Công an thành phố làm việc
Kết quả kiểm tra nhanh mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Mạnh H và Lê Thị T1: Dương tích với các chất ma tuý MDMA và Ketamine.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H, tại vị trí phòng ngủ phía trước tầng B, số nhà D N, phường Q, thành phố T phát hiện thu giữ 01 tờ tiền do ngân hàng N3 phát hành
mệnh giá 2000 đồng, bên trong bám dính chất bột màu trắng; 01 bật lửa; 01 bộ loa màu đen; 01 hợp đồng thuê nhà.
Tại bản kết luận giám định số 29/KL-KTHS, ngày 17/12/2024 Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Tìm thấy chất ma tuý, loại: MDMA, Ketamine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Mạnh H và Lê Thị T1; Chất bột bám dính trong tờ tiền do ngân hàng N3 phát hành mệnh giá 2000 đồng là ma tuý, loại: Ketamine, không xác định được khối lượng chất ma tuý.
Về nguồn gốc số ma tuý trên H khai nhận: Vào khoảng giữa tháng 11 năm 2024 H đi bộ một mình đến khu vực mặt bằng đối diện trường Chính trị tỉnh TH, thuộc phường Q, thành phố T gặp và một người đàn ông, người này giới thiệu tên L, H không biết người này tên thật là gì, nhà ở đâu. Qua nói chuyện người này nói với H trước đó có sử dụng thuốc lắc và Ketamine còn thừa một ít Ketamine đã xào sẵn và 01 viên thuốc lắc và hỏi H “ Còn ít ke và viên thuốc lắc có dùng thì lấy” H đồng ý và cầm số ma tuý trên đem về cất giấu trong lọ kẹo cao su để tại ngăn kéo ở phòng ngủ nhà mình nhằm mục đích khi nào cần sẽ đem ra sử dụng.
Bị cáo Nguyễn Mạnh H có 03 tiền án vào các năm 2017, 2018, 2022, chưa được xoá án tích. Đến nay lại tiếp tục phạm tội mới, nên xác định lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Về vật chứng vụ án: 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max; 01 bật lửa; 01 bộ loa màu đen thu giữ của Nguyễn Mạnh H; 01 Phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Bùi Xuân C và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
Cáo trạng số 85/CT-VKSTPTH ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự..
Tại phiên tòa,
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm h khoản 2 Điều 255 đối với bị cáo Nguyễn Mạnh Hoàng
Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 10/12/2024.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo
Đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước các vật chứng gồm: 01 loa màu đen; điện thoại Iphone 14 Pro Max
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo luật định
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để được sớm trở về với xã hội và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Mạnh H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của người làm chứng về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 08/12/2024 tại số nhà D N, phường Q, thành phố T, Nguyễn Mạnh H đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho bản thân và vợ của mình là Lê Thị T1, loại ma tuý H sử dụng là MDMA và Ketamine.
Bị cáo Nguyễn Mạnh H có 03 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội xác định là tái phạm nguy hiểm nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi:
Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là rất nghiêm trọng, là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi nhưng vẫn thực hiện. Hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất gây nghiện của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác và còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu nơi cộng đồng dân cư, gây suy thoái về đạo đức.
Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục các bị cáo, giáo dục chung cho xã hội và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[4]. Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo là các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có 03 lần bị công an xử phạt hành chính.
[6] Về vật chứng: Các vật chứng được bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa; 01 Phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Bùi Xuân C và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max; 01 bộ loa màu đen thu giữ của Nguyễn Mạnh H;
[7] Đối với Lê Thị T1 chỉ là người thụ hưởng chất ma tuý, không có hành vi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác nên không phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an thành phố T Quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Thị T1 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Đối với nhà số D N, phường Q, thành phố T là do Nguyễn Mạnh H đứng tên hợp đồng thuê của chị Lê Thị T2, sinh năm 1985, trú tại số nhà F Q, phường H, thành phố T từ ngày 30/9/2024 với giá 7.000.000 đồng/1 tháng. Việc H sử dụng nhà để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, chị Lê Thị T2 không biết, không liên quan. Nên không có căn cứ để sử lý
[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm h khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với tất cả các bị cáo
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh H: 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2024
Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa ga; 01 Phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, được dán kín có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Bùi Xuân C
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max màu tím số imeil: 357853685113541 và 01 bộ loa màu đen đã qua sử dụng;
Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH theo biên bản giao nhận vật chứng số 69/2025/THA ngày 17/02/2025.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: /2024/TB-TA
Tp.TH, ngày 16 tháng 9 năm 2024
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 296/2024/HS-ST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố TH xét xử đối với bị cáo Nguyễn Minh X và đồng phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 của Bộ luật hình sự do lỗi đánh máy cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
Về nội dung tại dòng 23 từ dưới lên của trang số 12 của Bản án ghi: “……Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự của Bộ luật hình sự...”
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “...Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 và Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự...”
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Ninh Thị Khánh Tân |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 10 giờ 45 phút, ngày 27 tháng 3 năm 2023
Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố TH
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh T3
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị H3
- Ông Nguyễn Duy T4
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 147/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Thái Anh T5 sinh năm 1976; tại TH; Địa chỉ: SN C ngõ F N, phường N, thành phố T, tỉnh TH;
- Phạm Văn N, sinh năm 1962, tại TH; HKTT: SN 0 N, phường N, tp ., tỉnh TH; Nơi ở hiện nay: Số nhà C, ngõ N 40 (trước là 36/66 T) phường N, tp .;
- Đỗ Thị Thu N1, sinh năm 1973, tại TH; HKTT: Số A ngõ Đ, phường N, Tp ., tỉnh TH; Địa chỉ: Số nhà C, T, phường N, Tp ., tỉnh TH;
- Nguyễn Đức M, sinh năm 1994, tại TH; HKTT: Số A ngõ Đ, phường N, Tp ., tỉnh TH; Địa chỉ: Số nhà C, T, phường N, Tp ., tỉnh TH;
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
- Về tội danh: Bị cáo Thái Anh T5, Phạm Văn N, Đỗ Thị Thu N1, Nguyễn Đức M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng: Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Thái Anh T5
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn N,
Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 47; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Thị Thu N1
Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 47; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức M
Điểm a và c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
- Về mức hình phạt: Bị cáo Thái Anh T5 07(bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 03/11/2022.
- Về các vấn đề khác:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong 02 phong bì niêm phong của phòng KTHS Công an tỉnh T, có hình dấu của phòng K kèm chữ ký, chữ viết của Lê Minh T6, Hoàng Tiến D, Lê Thế A, Lưu Bình N2 và Lê Thị Thanh L1
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 7 màu trắng, số Imei 355337085864467 thu giữ của Nguyễn Đức M; 01 điện thoại di động OPPO A94 màu đen, số Imei 1 863271056438099, số Imei 2: 863271056438081 thu giữ của Thái Anh T5; 01 cân điện tử màu đen
- - Tịch thu tiêu hủy: sim thuê bao 0917414713, sim thuê bao 0374299588, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 mảnh giấy bạc.
Bị cáo Phạm Văn N 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
Bị cáo Đỗ Thị Thu N1 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 01/11/2022 đến ngày 07/11/2022.
Bị cáo Nguyễn Đức M 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 01/11/2022
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
Về vật chứng:
Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH theo biên bản giao nhận vật chứng số 79/2023/THA ngày 02/02/2023.
Về án phí: Buộc các bị cáo Thái Anh T5, Phạm Văn N, Đỗ Thị Thu N1, Nguyễn Đức M mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
Nghị án kết thúc vào hồi .... giờ .... phút, ngày 11 tháng 01 năm 2023.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Đình Vụ Đỗ Thị S |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh T3 |
Bản án số 119/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 119/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh H tổ chức sử dụng Tp CMT
