Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 6 - 2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
  • Ông Bùi Văn Hồng
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 81/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 87/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 1720/2025/TB-TA ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị A, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn D, xã M, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1994; Nơi đăng ký thường trú: Thôn D, xã M, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Nguyễn Thị A1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị A và anh Lê Văn H tự do tìm hiểu, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 05/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian đầu đến năm 2021 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Sau đó anh H đi lao động tại Đài Loan đến nay chưa về nước. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng mỗi người ở một nơi, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng trở nên xa cách. Nay, hai bên không còn liên lạc, quan tâm gì đến nhau. Chị đã nhiều lần yêu cầu anh H cung cấp thông tin, địa chỉ làm việc ở nước ngoài nhưng anh H không cung cấp. Hiện tại, chị A xác định cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

- Về con chung: Chị và anh H có một con chung là Lê Đức M, sinh ngày 12/10/2020, hiện đang sống với chị A. Khi ly hôn, chị A yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi nhận sự việc thông qua việc gọi điện (ghi âm, ghi hình) qua tài khoản mạng xã hội với anh H thống nhất với ý kiến của chị A về quá trình hôn nhân, nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đồng ý ly hôn theo đề nghị của chị A. Về con chung: Anh H1 yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Văn V và đồng ý giao cháu Nguyễn Văn Gia B cho chị A được chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Trong thời gian anh H1 chưa về nước thì để bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị M1 tiếp tục chăm sóc cháu V cho đến khi anh về nước. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: anh và chị A không yêu cầu Toà án giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh H1 đã được tiếp cận đầy đủ các tài liệu do chị Lan A1 giao nộp cũng như các thông báo làm việc và văn bản thủ tục tố tụng khác của Tòa án. Vì vậy, anh H1 xin được xét xử vắng mặt và ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho bố đẻ là ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Hà tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình 2014; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, chấp nhận yêu cầu của các đương sự về việc xin ly hôn, xử cho chị Nguyễn Thị Lan A1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1. Về vấn đề con chung: xử giao cháu Nguyễn Văn V cho anh Nguyễn Văn H1, giao cháu Nguyễn Văn Gia B cho chị Nguyễn Thị Lan Al trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị A1 và anh H1 được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở. Chị A1 và anh H1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét; Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Lan A1 phải chịu án phí giải quyết vụ án ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn H1 đang sống và làm việc tại Nga, không có địa chỉ cụ thể. Tuy nhiên, Tòa án đã thông qua gia đình để thu thập đầy đủ ý kiến anh H1 đối với việc giải quyết ly hôn. Theo công văn số 1291/QLXNC-Đ1 ngày 12/12/2024 của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh - Công An tỉnh H thì anh Nguyễn Văn H1 đã xuất cảnh lần cuối ngày 28/6/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung là đúng theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Do điều kiện công việc nên anh H1 đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu liên quan đến vụ án đề nghị Tòa án gửi về cho bố đẻ là ông Nguyễn Văn P để giao nhận các tài liệu liên quan đến vụ án. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị A1 và anh H1 theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lan A1 và anh Nguyễn Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị A1 và anh H1 là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, do điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình nên anh H1 đi lao động tại Nga. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian đến khi anh H1 đi lao động tại nước ngoài thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng mỗi người ở một nơi dẫn đến bất đồng quan điểm sống, không hiểu nhau, tính tình không phù hợp nên thường xuyên cãi vã, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng trở nên xa cách. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, cả hai không liên lạc, quan tâm đến nhau, đồng thời không ai có biện pháp gì để hàn gắn. Nay chị A1 xác định cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Anh H1 cũng thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nữa, mỗi người đều đã có cuộc sống riêng nên chị A1 xin ly hôn thì anh H1 đồng ý.

Xét thấy mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, tiến bộ, vợ chồng phải tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa chị A1 và anh H1 không còn đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng. Hiện tại, các đương sự đều tự nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, không còn tình cảm với nhau và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng nên mong muốn ly hôn. Xét thấy, yêu cầu của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật. Vợ chồng sống mỗi người một nơi không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lan A1.

[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Văn V, sinh ngày 13/6/2016 và Nguyễn Văn Gia B, sinh ngày 04/11/2021. Hiện cháu V đang sống với ông bà nội, còn cháu Gia B đang sống với chị A1. Chị A1 và anh H1 đều thống nhất giao cháu Nguyễn Văn V cho anh Nguyễn Văn H1, giao cháu Nguyễn Văn Gia B cho chị Nguyễn Thị Lan A1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Vì vậy, cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự là giao cháu Nguyễn Văn V cho anh Nguyễn Văn H1, giao cháu Nguyễn Văn Gia B cho chị Nguyễn Thị Lan A1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật, với nguyện vọng của con chung Nguyễn Văn V (trên 07 tuổi) và điều kiện hoàn cảnh của mỗi bên. Chị A1 và anh H1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Trong thời gian anh H1 chưa về nước, tạm giao cháu Nguyễn Văn V cho bố đẻ anh H1 là ông Nguyễn Văn P tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng để ổn định tâm sinh lý, đời sống sinh hoạt và học tập của cháu. Chị A1 và anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39, 227, 228, 273, 464, 469, 479; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Lan A1. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lan A1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Văn V, sinh ngày 13/6/2016 cho anh Nguyễn Văn H1 và giao cháu Nguyễn Văn Gia B, sinh ngày 04/11/2021 cho chị Nguyễn Thị Lan A1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Lan A1 và anh Nguyễn Văn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị A1 và anh H1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Lan A1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị A1 đã nộp theo biên lai số 0000196 ngày 29/11/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Nam Hương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 119/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị trần Thị A yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger