Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

TP.HÀ NỘI

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

*****

Bản án số: 119/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06/03/2025

V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Chu Thị Tuyết
    2. Ông Đỗ Kỳ Lân
  • Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Xuân Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hoà – Kiểm sát viên

Trong ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 427/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2024 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/01/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1988
  • HKTT và chỗ ở hiện nay: P Tập thể K, phường K, quận T, Hà Nội (Vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt tại phiên toà)
  • - Bị đơn: Ông Hoàng C, sinh năm 1985
  • HKTT: P Tập thể K, phường K, quận T, Hà Nội (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn (bà Đoàn Thị H) trình bày:

Bà và ông Hoàng C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/02/2008 tại UBND phường K, quận T, Hà Nội. Quá trình chung sống đời sống chung của vợ chồng diễn ra hoà hợp, hạnh phúc và không có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, ngày 16/09/2016 ông C bảo với bà và bố mẹ chồng bà là công việc hiện tại ông đang làm lương thấp, không đủ tiền nuôi con ăn học nên ông xin phép bố mẹ cho ông đi tìm việc làm khác, rồi từ hôm đó đến nay không về, cũng không liên lạc với gia đình lần nào. Gia đình có gọi điện, máy báo không liên lạc được, gia đình cũng đi tìm kiếm khắp nơi nhưng đều không có tin tức gì về ông C. Từ thời điểm ông C bỏ đi đến nay đã 08 năm. Bà vò võ một mình nuôi con và mỏi mòn chờ đợi nhưng ông C không trở về. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông C, mục đích xây dựng hôn nhân hạnh phúc không đạt được nên bà đề nghị được ly hôn với ông C.

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung là Hoàng Phương M (nữ), sinh ngày 03/05/2009. Bà đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: Vợ chồng bà không có tài sản chung, không có nợ chung, bà không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông C đều vắng mặt không có lý do và không có bất cứ ý kiến gì gửi Toà án.

Cháu Hoàng Phương M có đơn trình bày nguyện vọng: Trong trường hợp bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng và mong muốn được ở cùng với mẹ.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của ông Hoàng Việt H1 và bà Đặng Thị H2 (bố mẹ đẻ ông Hoàng C). Sau khi được hỏi, ông H1 và bà H2 thống nhất trình bày: Ông bà là bố mẹ đẻ của ông Hoàng C. Bà H và ông C kết hôn năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, T, Hà Nội. Việc kết hôn của bà H, ông C đều được sự nhất trí của hai bên gia đình.

Sau khi kết hôn bà H, ông C về chung sống với nhau tại P205 A8, tập thể K, phường K, T, Hà Nội là nhà của ông H1, bà H2. Ông bà nhận thấy, quá trình chung sống, vợ chồng Hiền C1 rất hoà thuận. Tuy nhiên, ngày 16/9/2016 ông C1 bảo với vợ và bố mẹ là công việc hiện tại ông đang làm lương thấp, không đủ tiền nuôi con ăn học nên ông xin phép bố mẹ cho ông đi tìm việc khác, rồi ông đi từ hôm đó đến nay không về, gia đình có gọi điện nhưng máy báo không liên lạc được, gia đình cũng đi tìm kiếm khắp nơi nhưng đều không có tin tức gì về ông C1. Từ thời điểm ông C1 bỏ đi đến nay đã 8 năm trời, bà H vò võ một mình nuôi con và đợi chồng nhưng chồng không trở về. Nay bà H xin ly hôn, quan điểm của ông bà hoàn toàn nhất trí với yêu cầu của bà H, đề nghị Toà án giải quyết cho bà H được ly hôn để bà H đi tìm hạnh phúc mới.

Quá trình chung sống vợ chồng Hiền C1 không có vay mượn gì và cũng không có đóng góp gì với gia đình ông bà.

Do tuổi đã cao, việc đi lại khó khăn nên đề nghị Tòa án cho phép ông bà được vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa và vắng mặt tại phiên tòa.

Tại Giấy xác nhận tình trạng chung sống của vợ chồng, bà Phạm Thanh B (tổ trưởng tổ dân phố A, phường K, quận T, Hà Nội) cung cấp như sau: Bà thấy vợ chồng Hiền C1 chung sống hoà hợp. Năm 2016, ông C1 bỏ nhà đi đến nay vẫn không trở về, ông C1 làm gì, ở đâu, gia đình và địa phương không nắm được. Nay bà H xin ly hôn, bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, vợ chồng Hiền C1 có 01 con chung là cháu Hoàng Phương M. Về tài sản, nhà ở chung, bà không rõ.

Toà án có công văn hỏi ý kiến của Phòng Lao động thương binh và xã hội quận T, được Phòng Lao động thương binh và xã hội quận T trả lời: Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho trẻ em.

Tại phiên tòa:

Phiên toà lần 1 (ngày 14/2/2025) bà H vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt, ông C1 vắng mặt không có lý do, Toà án đã hoãn phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, bà H vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt, ông C1 tiếp tục vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân phát biểu ý kiến:

Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân đã tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại tổ dân phố A nơi vợ chồng anh C1, chị H sinh sống trước khi anh C1 bỏ đi xác nhận anh C1 đã bỏ nhà đi từ năm 2016, ghi lời khai bố mẹ đẻ anh công đều thể hiện anh C1 bỏ nhà đi từ năm 2016, gia đình không liên lạc được, đã đi tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức gì của anh C1 từ đó đến nay. Do đó, việc niêm yết thông tin của Tòa án chưa đảm bảo được cho bị đơn nhận được thông tin. Tại phiên tòa lần 2 ngày hôm nay anh C1 vẫn vắng mặt, đề nghị Tòa án căn cứ điểm c khoản 1 Điều 259 BLTTDS tạm ngừng phiên tòa để: - Đăng thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng theo Điều 180 BLTTDS - Tiến hành các thủ tục để tuyên bố anh C1 mất tích, trước khi giải quyết vụ án tranh chấp ly hôn nêu trên.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, được công khai tại phiên tòa; trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Đối với sự vắng mặt của bị đơn. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn đều vắng mặt. Phiên toà lần 1 bị đơn vắng mặt. Toà án đã hoãn phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn vẫn vắng mặt, do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Đối với sự vắng mặt của nguyên đơn: Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị H và ông Hoàng C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/02/2008 tại UBND phường K, quận T, Hà Nội nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy: Theo lời khai của các bên và ý kiến của tổ dân phố thì quá trình chung sống, đời sống chung của vợ chồng bà H ông Công diễn ra hoà hợp, hạnh phúc và không có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, năm 2016 ông C bỏ nhà đi đến nay không trở về, cũng không liên lạc với gia đình lần nào. Gia đình đã gọi điện và đi tìm kiếm khắp nơi nhưng đều không có tin tức gì về ông C. Từ thời điểm ông C bỏ đi đến nay là 08 năm, bà H đã chịu nhiều vất vả, thiệt thòi khi phải một mình nuôi con nhỏ và thiếu thốn tình cảm vợ chồng. Ông C bỏ nhà đi không liên lạc với gia đình là vi phạm nghĩa vụ sống chung với nhau của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, nay bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được nên xin ly hôn ông C, cần căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để chấp nhận yêu cầu hợp pháp này của bà H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Phương M (nữ), sinh ngày 03/05/2009. Bà H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu ông C cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Nguyện vọng của con chung muốn được ở với mẹ.

Xét thấy: Con chung hiện đang ở ổn định với mẹ, ông C đã bỏ nhà đi, hiện không rõ địa chỉ cụ thể ở đâu, do đó căn cứ vào các điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông C cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản của vợ chồng: Bà H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, bà không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản nên Tòa không xem xét.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Đoàn Thị H đối với ông Hoàng C. Bà Đoàn Thị H được ly hôn ông Hoàng C.
  2. Về con chung: Giao bà Đoàn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hoàng Phương M (nữ), sinh ngày 03/05/2009, ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông C cấp dưỡng tiền nuôi con chung, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi các bên có sự thay đổi khác.

    Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở.

  3. Về tài sản: Không xem xét
  4. Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ với 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp tại biên lai số 0036522 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, Hà Nội.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà H, ông C vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội.;
  • - VKSND TP Hà nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - THADS quận Thanh Xuân;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Khương Trung,
  • quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI về xin ly hôn

  • Số bản án: 119/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger