Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 119/2025/DSST-ST

Ngày: 17/6/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Trần Đức Lưu

2. Bà Lương Thị Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình ghi biên bản phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 374/2024/TLDS-ST ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 90/2025/QĐHPT-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025 giữa:

*Nguyên đơn:

  1. Công ty Cổ phần M1; Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T – Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Hồng L, bà Lê Thị Ngọc M, ông Nguyễn Ngọc T1, ông Đặng Xuân Đ. (Ông Đ có mặt)
  2. Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 (V3); Địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng Quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L1; Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Đào Tuấn V, bà Vi Thị T2. (Có đơn xin vắng mặt)

*Bị đơn: Bà Lê Thanh T3; Ông Trần Anh P; Cùng ĐKHKTT và nơi ở: Số F P, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1981; ĐKHKTT và nơi ở: Tổ A, phường N, quận C, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đỗ Ngọc L2; ĐKHKTT và nơi ở: Số C ngách A T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1981; ĐKHKTT và nơi ở: Tổ A, phường N, quận C, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
  2. Bà Trần Lê V1; ĐKHKTT và nơi ở: Số F P, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1981; ĐKHKTT và nơi ở: Tổ A, phường N, quận C, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần M1 - Ông Đặng Xuân Đ trình bày:

Ngày 07/12/2022, bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P có ký Hợp đồng cho vay số LN2212027654614 với Ngân hàng TMCP V2 – Chi nhánh T4; Số tiền cho vay 8.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Tám tỷ đồng); Thời hạn cho vay: 120 tháng; Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn mở rộng/ Phát triển kinh doanh cát đá sỏi; Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 12%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày).

+ Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân (“Thời gian cố định”). Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm). Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của Ngân hàng TMCP V2 thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 216 tháng được nên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V3.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,5%/năm.

Sau khi ký hợp đồng cho vay, ngày 07/12/2022 Ngân hàng TMCP V2 – Chi nhánh T4 đã giải ngân cho bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P đủ số tiền 8.000.000.000 đồng theo khế ước nhận nợ.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, ngày 07/12/2022 ông Đỗ Ngọc L2 và vợ là bà Trần Lê V1 đã ký hợp đồng thế chấp, số công chứng 5522/2022, quyển 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại trụ sở Văn phòng C, thành phố Hà Nội. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản đảm bảo cho khoản vay.

Tài sản bảo đảm gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số -/-, tờ bản đồ số -/-, tại địa chỉ: Biệt thự C, Khu đô thị M, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 674665, số vào sổ cấp GCN: CS 04340 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H – Văn phòng Đ1 cấp ngày 16/3/2016.

Quá trình trả nợ:

Bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P vi phạm nghĩa vụ trả nợ và chịu mức lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 15/7/2024 theo thỏa thuận trong hợp đồng cho vay.

Tính đến ngày 17/6/2025 số tiền bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P đã trả được là: Nợ gốc 467.111.226 đồng và nợ lãi 817.839.853 đồng.

Ngày 28/3/2025, Ngân hàng TMCP V2 và Công ty Cổ Phần M1 ký hợp đồng mua bán nợ số 03/2025/VPB-MARS và phụ lục kèm theo. Theo đó, Ngân hàng TMCP V2 đồng ý bán và Công ty Cổ Phần M1 đồng ý mua một phần khoản nợ của khách hàng vay là bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh Phong bao G khoản nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt và phí chưa thanh toán cùng các quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ này (bao gồm tài sản bảo đảm,...) phát sinh theo hợp đồng cho vay của bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P đã ký với Ngân hàng TMCP V2 – Chi nhánh T4.

Công ty Cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Buộc bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải thanh toán cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 tổng số tiền tính đến ngày 17/6/2025 là: 11.203.536.314 đồng (Trong đó nợ gốc là 7.532.888.774 đồng; Nợ lãi trong hạn là 1.910.901.561 đồng; nợ lãi quá hạn là 1.475.039.419 đồng; nợ lãi chậm trả lãi là 284.706.560 đồng).

Cụ thể:

  • Bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải thanh toán cho Công ty cổ phần M1 số tiền là: 10.643.359.498 đồng (Trong đó nợ gốc là 7.156.244.335 đồng; nợ lãi trong hạn là 1.815.356.483 đồng; nợ lãi quá hạn là 1.401.287.448 đồng; nợ lãi chậm trả lãi là 270.471.232 đồng).
  • Bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V2 số tiền là: 560.176.816 đồng (Trong đó nợ gốc là: 376.644.439 đồng; nợ lãi trong hạn là 95.545.078 đồng; nợ lãi quá hạn là 73.751.971 đồng; nợ lãi chậm trả lãi là 14.235.328 đồng).

Kể từ ngày 18/6/2025, bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P còn phải tiếp tục trả cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P không trả hoặc trả không đủ nợ thì Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số -/-, tờ bản đồ số -/-, tại địa chỉ: Biệt thự C, Khu đô thị M, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 674665, số vào sổ cấp GCN: CS 04340 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H – Văn phòng Đ1 cấp ngày 16/03/2016. Chuyển nhượng cho ông Đỗ Ngọc L2 và bà Trần Lê V1 ngày 15/11/2022.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P đối với Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2. Trong trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản thế chấp vẫn không đủ trả hết nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 thì bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 cho đến khi thực tế trả hết khoản nợ.

* Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Ngân hàng TMCP V2 – Ông Đào Tuấn V trình bày:

Ngân hàng TMCP V2 đồng ý với ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần M1 đã trình bày. Đề nghị bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải thanh toán cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 tổng số tiền tính đến ngày 17/6/2025 là: 11.203.536.314 đồng (Trong đó nợ gốc là 7.532.888.774 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.910.901.561 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.475.039.419 đồng, nợ lãi chậm trả lãi là 284.706.560 đồng).

Trong đó bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V2 tổng số tiền tính đến ngày 17/6/2025 là: 560.176.816 đồng (Trong đó nợ gốc là: 376.644.439 đồng; nợ lãi trong hạn là: 95.545.078 đồng; nợ lãi quá hạn là: 73.751.971 đồng; nợ lãi chậm trả lãi là 14.235.328 đồng).

Kể từ ngày 18/6/2025, bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P còn phải tiếp tục trả cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P không trả hoặc trả không đủ nợ thì Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số -/-, tờ bản đồ số -/-, tại địa chỉ: Biệt thự C, Khu đô thị M, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 674665, số vào sổ cấp GCN: CS 04340 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H – Văn phòng Đ1 cấp ngày 16/03/2016. Chuyển nhượng cho ông Đỗ Ngọc L2 và bà Trần Lê V1 ngày 15/11/2022.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P đối với Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2. Trong trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản thế chấp vẫn không đủ trả hết nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 thì bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 cho đến khi thực tế trả hết khoản nợ.

* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P – Ông Phạm Văn H trình bày:

Bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P xác nhận có ký hợp đồng cho vay số LN2212027654614 ngày 07/12/2022 và các phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 07/12/2022 với Ngân hàng TMCP V2 – Chi nhánh T4. Thời hạn cho vay: 120 tháng. Lãi suất cho vay trong hạn: 12,8%/năm (lãi suất được tính theo năm là 365 ngày). Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi tối đa không quá 100%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Sau khi ký hợp đồng cho vay, bà T3 và ông P đã được giải ngân đúng số tiền như Ngân hàng trình bày. Bà T3 và ông P xác nhận toàn bộ dư nợ tính đến ngày ngày 21/5/2025 là: 11.064.764.631 đồng (Trong đó nợ gốc là 7.532.888.774 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.276.445.797 đồng, nợ lãi chậm trả lãi là 255.430.059 đồng).

Ông Phạm Văn H xác nhận Ngân hàng TMCP V2 đã thông báo cho bà Lê Thanh T3, ông Trần Anh P, ông Đỗ Ngọc L2 và bà Trần Lê V1 việc Ngân hàng TMCP V2 đã bán một phần khoản nợ của bà Lê Thanh T3 ông Trần Anh P cho Công ty cổ phần M1 và được bà T3, ông P, ông L2, bà V1 đồng ý.

Bà T3 và ông P đưa ra phương án trả nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 như sau:

  • Ngày 30/10/2025 bà T3 và ông P sẽ thanh toán cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 số tiền là: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng);
  • Ngày 30/11/2025 bà T3 và ông P sẽ thanh toán cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 số tiền là: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng);
  • Ngày 30/12/2025 bà T3 và ông P sẽ thanh toán cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 số tiền là: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng);
  • Ngày 30/3/2026 bà T3 và ông P sẽ tất toán khoản vay trên cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2.

Bà T3 và ông P đề nghị Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 xem xét miễn giảm lãi phạt và lãi quá hạn cho bà T3, ông P.

*Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Trần Lê V1 và ông Đỗ Ngọc L2 – Ông Phạm Văn H trình bày:

Bà Trần Lê V1 và ông Đỗ Ngọc L2 xác nhận ngày 07/12/2022 có ký hợp đồng thế chấp số công chứng: 5522/2022 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký tại trụ sở văn phòng C1 Địa chỉ: A D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội để đảm bảo cho khoản vay của bà T3, ông P.

Tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số -/-, tờ bản đồ số -/-, tại địa chỉ: Biệt thự C, Khu đô thị M, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 674665, Số vào sổ cấp GCN: CS 04340 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H – Văn phòng Đ1 cấp ngày 16/03/2016. Chuyển nhượng cho ông Đỗ Ngọc L2 và bà Trần Lê V1 ngày 15/11/2022.

Bà Trần Lê V1 và ông Đỗ Ngọc L2 đề nghị Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 chấp nhận phương án trả nợ của bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P. Trong trường hợp bà T3 ông P vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ông Đỗ Ngọc L2 và bà Trần Lê V1 đồng ý để Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 xử lý phát mại tài sản bảo đảm nói trên.

Tại phiên tòa:

  • Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
  • Bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt;

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

  • Về thẩm quyền: Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Xác định đúng tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Tiến hành hòa giải, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, công bố chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ theo các Điều 208, 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Quyết định đưa vụ án ra xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự và đã được tống đạt hợp lệ cho các đương sự;
  • Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định tại chương XIV và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 85, Điều 86 Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Về hình thức và nội dung hợp đồng vay vốn; Hợp đồng mua bán nợ; Hợp đồng thế chấp; Khế ước nhận nợ được các bên ký kết dựa trên cơ sở tự nguyện, theo đúng quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải trả cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 số tiền nợ gốc, tiền lãi, tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P không trả được nợ cho cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 thì cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp nói trên để thu hồi nợ.

Áp dụng Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, nguyên đơn Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 yêu cầu bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải thanh toán số tiền do vi phạm hợp đồng cho vay nên xác định đây là vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng cho vay. Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Đối với hợp đồng cho vay:

Ngân hàng TMCP V2 - Chi nhánh T4 và bà Lê Thanh T3, ông Trần Anh P có ký hợp đồng cho vay số LN2212027654614 ngày 07/12/2022. Số tiền cho vay: 8.000.000.000 đồng. Khi ký hợp đồng cho vay các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không có dấu hiệu bị lừa dối, cưỡng ép, kể từ ngày hợp đồng được ký kết đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Ngân hàng TMCP V2 - Chi nhánh T4 đã giải ngân cho bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P qua khế ước nhận nợ cụ thể đã ký. Trong hợp đồng cho vay có nội dung thỏa thuận về số tiền vay, thời hạn vay, mục đích vay vốn, lãi suất cho vay, kỳ hạn trả nợ, lãi suất quá hạn. Hợp đồng cho vay phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự; Luật các tổ chức tín dụng, quy chế cho vay. Do đó xác định là hợp đồng hợp pháp, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Hợp đồng cho vay số LN2212027654614 ngày 07/12/2022 có quy định lịch trả nợ gốc và lãi. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ là vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng cho vay đã ký. Do đó, bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải thanh toán số tiền nợ gốc của hợp đồng cho vay đã ký.

Đối với hợp đồng mua bán nợ số 03/2025/VPB-MARS ngày 28/3/2025 và phụ lục kèm giữa Ngân hàng TMCP V2 với Công ty Cổ Phần M1, Ngân hàng TMCP V2 đồng ý bán và Công ty Cổ Phần M1 đồng ý mua một phần khoản nợ của khách hàng vay là bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh Phong bao G khoản nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt và phí chưa thanh toán cùng các quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ này (bao gồm tài sản bảo đảm,...) phát sinh theo hợp đồng cho vay của bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P đã ký với Ngân hàng TMCP V2 – Chi nhánh T4.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Hợp đồng mua bán nợ số 03/2025/VPB-MARS ngày 28/3/2025 và phụ lục kèm giữa Ngân hàng TMCP V2 với Công ty Cổ Phần M1 là hợp pháp đúng quy định của pháp luật. Do đó, Công ty M1 và Ngân hàng TMCP V2 yêu cầu bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P thanh toán số tiền nợ gốc của Hợp đồng cho vay đã ký là 7.532.888.774 đồng là có cơ sở để chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu tiền lãi:

Hợp đồng cho vay số LN2212027654614 ngày 07/12/2022 có quy định tại điểm e khoản 7 Điều 1 “Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi....”.

Xét thấy, các thỏa thuận về lãi được ghi rõ trong hợp đồng và tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P đều xác nhận khoản nợ gốc, khoản nợ lãi đối với Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 buộc bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải trả Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 số tiền nợ lãi đến ngày 17/6/2025 là 3.670.647.540 đồng: Trong đó;

Nợ lãi trong hạn là 1.910.901.561 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.475.039.419 đồng, nợ lãi chậm trả lãi là 284.706.560 đồng

[2.3] Đối với hợp đồng thế chấp:

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ cho khoản vay theo hợp đồng cho vay của Ngân hàng TMCP V2 – Chi nhánh T4, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Ngọc L2, bà Trần Lê V1 và Ngân hàng TMCP V2 đã ký Hợp đồng thế chấp ngày 07/12/2023, số công chứng 5522/2022, quyển 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại trụ sở Văn phòng C1 Tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số -/-, tờ bản đồ số -/-, tại địa chỉ: Biệt thự C, Khu đô thị M, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 674665, số vào sổ cấp GCN: CS 04340 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H – Văn phòng Đ1 cấp ngày 16/03/2016. Chuyển nhượng cho ông Đỗ Ngọc L2 và bà Trần Lê V1 ngày 15/11/2022.

Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1 cấp ngày 16/03/2016 là đúng với các quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, phù hợp với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Xét thấy, các bên ký hợp đồng thế chấp nói trên đều có đủ năng lực hành vi dân sự, đều tự nguyện, không bị cưỡng ép, nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, được ký kết tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo đúng trình tự thủ tục, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy các bên có trách nhiệm và nghĩa vụ tiếp tục thực hiện, tiếp tục duy trì tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án.

Ngày 28/3/2025, Ngân hàng TMCP V2 và Công ty Cổ Phần M1 ký Hợp đồng mua bán nợ số 03/2025/VPB-MARS và phụ lục kèm theo. Theo đó, Ngân hàng TMCP V2 đồng ý bán và Công ty Cổ Phần M1 đồng ý mua một phần khoản nợ của khách hàng vay là bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh Phong bao G khoản nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt và phí chưa thanh toán cùng các quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ này (bao gồm tài sản bảo đảm,...) phát sinh theo hợp đồng cho vay của bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P đã ký với Ngân hàng TMCP V2 – Chi nhánh T4.

Trong trường hợp bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P không trả số nợ nêu trên thì Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp và theo quy định của pháp luật để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ nêu trên.

Trường hợp giá trị tài sản thế chấp không đủ để thanh toán cho khoản vay thì bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải tiếp tục thanh toán số nợ còn lại.

Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3].Về án phí: bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 119.203.536 đồng. Ngân hàng TMCP V2 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 58.945.000 đồng theo biên lại số 0030958 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng vào Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Áp dụng Điều 351, 353, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Áp dụng Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 đối với bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  2. Buộc bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải thanh toán trả cho Công ty cổ phần M1 số tiền là: 10.643.359.498 đồng (Mười tỷ, sáu trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm năm mươi chín nghìn, bốn trăm chín mươi tám đồng); Trong đó: Nợ gốc là 7.156.244.335 đồng; Nợ lãi trong hạn là 1.815.356.483 đồng; Nợ lãi quá hạn là 1.401.287.448 đồng; Nợ lãi chậm trả lãi là 270.471.232 đồng.
  3. Buộc bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP V2 số tiền là: 560.176.816 đồng (Năm trăm sáu mươi triệu, một trăm bảy mươi sáu nghìn, tám trăm mười sáu đồng); Trong đó: Nợ gốc là: 376.644.439 đồng; Nợ lãi trong hạn là 95.545.078 đồng; Nợ lãi quá hạn là 73.751.971 đồng; Nợ lãi chậm trả lãi là 14.235.328 đồng.
  4. Kể từ ngày 18/6/2025, bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P còn phải tiếp tục trả cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
  5. Trong trường hợp bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp ngày 07/12/2023, số công chứng 5522/2022, quyển 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại trụ sở Văn phòng C1 Tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số -/-, tờ bản đồ số -/-, tại địa chỉ: Biệt thự C, Khu đô thị M, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 674665, số vào sổ cấp GCN: CS 04340 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H – Văn phòng Đ1 cấp ngày 16/03/2016. Chuyển nhượng cho ông Đỗ Ngọc L2 và bà Trần Lê V1 ngày 15/11/2022. Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 tiếp tục quản lý hồ sơ tài sản thế chấp của bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P để đảm bảo cho việc thi hành án.
  6. Khi phát mại tài sản thế chấp nêu trên, nếu thiếu thì bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P tiếp tục phải trả cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V2 số tiền còn thiếu.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  8. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Lê Thanh T3 và ông Trần Anh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 119.203.536 đồng (Một trăm mười chín triệu, hai trăm linh ba nghìn, năm trăm ba mươi sáu đồng). Ngân hàng TMCP V2 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 58.945.000 đồng (Năm mươi tám triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0030958 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.
  9. Án xử công khai, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận

  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đinh Ngọc Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2025/DSST-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 119/2025/DSST-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: *Nguyên đơn: 1. Công ty Cổ phần M1; Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T – Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Hồng L, bà Lê Thị Ngọc M, ông Nguyễn Ngọc T1, ông Đặng Xuân Đ. (Ông Đ có mặt) 2. Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 (V3); Địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng Quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L1; Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Đào Tuấn V, bà Vi Thị T2. (Có đơn xin vắng mặt) *Bị đơn: Bà Lê Thanh T3; Ông Trần Anh P; Cùng ĐKHKTT và nơi ở: Số F P, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1981; ĐKHKTT và nơi ở: Tổ A, phường N, quận C, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger