TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2025/DS-ST
Ngày: 12 - 6 - 2025
V/v: Tranh chấp dân sự về
quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thuỳ Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Phước Tâm.
2. Ông Lê Đình Thủ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 12/6/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 494/2023/TLST-DS ngày 24/5/2023 về việc: “Tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2025/QĐXXST-DS ngày 25/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 209/2025/QĐST-DS ngày 15/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Văn P, sinh năm 1968
Địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đặng Văn P là Luật sư Võ Thị T; Địa chỉ: số B L, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp - Văn phòng L5, chi nhánh Đ1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
- Bị đơn: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1978
Địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bà Đặng Thị L là anh Châu Nhật T1, sinh năm 1999; Địa chỉ: số G, Quốc lộ C, phường M, thành phố C tỉnh Đồng Tháp (Hợp đồng ủy quyền ngày 16/6/2023).
Người đại diện theo ủy quyền của C Nhật Trường là anh Nguyễn Trường T2, sinh năm 1997; Địa chỉ: Số C, L, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Văn bản ủy quyền ngày 11/9/2024).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đặng Thị L là Luật sư Phạm Hoàng Đ - Công ty L6, chi nhánh Đ1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trịnh Thị T3, sinh năm 1970
- Chị Đặng Thị N, sinh năm 1991
- Anh Đặng Thái H, sinh năm 1994
Cùng địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị T3, chị Đặng Thị N và anh Đặng Thái H là ông Đặng Văn P sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (Hợp đồng ủy quyền ngày 16/10/2023).
- Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1978
- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 2002
- Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 2004
Cùng địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn T5 là bà Đặng Thị L, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (Văn bản ủy quyền ngày 05/6/2024).
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1977
- Bà Trần Thị K, sinh năm 1978
Cùng địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Ủy ban nhân dân huyện C (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông P, bà L, anh T2, luật sư T và luật sư Đ có mặt; các đương sự còn lại có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà nguyên đơn ông Đặng Văn P đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của bà Trịnh Thị T3, chị Đặng Thị N và anh Đặng Thái H trình bày:
Phần đất tranh chấp có diện tích 2.505,8m² trong phạm vi từ mốc M7-M8-M9-M10-M7 của Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (theo Biên bản xem xét thẩm định ngày 04/10/2023) thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P có nguồn gốc là của ông Đặng Văn K1 tặng cho vào ngày 07/7/2010.
Sau khi được cho đất, gia đình ông P có trồng một số cây xoài, cây tre trên đất. Ông P canh tác đất đến năm 2015 thì ông P cho bà Đặng Thị L mượn canh tác, có nói khi nào ông P cần thì sẽ lấy đất lại. Do mối quan hệ là anh em ruột nên việc ông P cho bà L mượn đất canh tác không có làm giấy tờ. Bà L canh tác đất từ năm 2015 cho đến nay. Thời gian gần đây ông P thấy ông Nguyễn Văn S sử dụng phần đất mà ông P đang cho bà L mượn và tìm hiểu biết được bà L đã chuyển nhượng phần đất này cho ông S. Khi ông P đến gặp bà L yêu cầu trả lại đất cho ông thì bà L cho rằng phần đất trên bà L được ông Đặng Văn K1 tặng cho nên bà L có quyền chuyển nhượng cho người khác.
Ông P cho rằng việc bà L chuyển nhượng cho ông S phần diện tích đất 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4 đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông P. Do đó, ông Đặng Văn P khởi kiện yêu cầu:
- Ông Đặng Văn P yêu cầu bà Đặng Thị L trả lại cho gia đình ông Phương diện T6 2.505,8m², thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
- Ông Đặng Văn P yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đặng Thị L với ông Nguyễn Văn S đối với diện tích 2.505,8m², thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
- Buộc bà Đặng Thị L với ông Nguyễn Văn S tháo dỡ di dời toàn bộ công trình vật kiến trúc và các tài sản khác của ông S, bà L để trả lại phần đất có diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
Ông P không đồng ý toàn bộ nội dung yêu cầu phản tố của bà L.
Nguyên đơn đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản của Tòa án và đồng ý với sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C. Hiện trạng diện tích đất tranh chấp không có gì thay đổi so với thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ. Ngoài ra, nguyên đơn không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1268, tờ bản đồ số 4 hiện ông P đang giữ bản chính, không có cầm cố thế chấp hay thực hiện bất kỳ giao dịch dân sự nào khác. Ngoài ra, nguyên đơn không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
- Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà anh Nguyễn Trường T2 là người đại diện theo uỷ quyền bà Đặng Thị L trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà L không đồng ý.
Phần đất diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4 mà nguyên đơn yêu cầu bà L trả lại cho hộ nguyên đơn thì bị đơn cho rằng nằm hoàn toàn trong thửa 1239, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Đặng Thị L vào ngày 09/9/2015. Từ trước đến nay ông P không được cho phần diện tích đất, do đó không có việc ông P cho bà L mượn đất canh tác như lời trình bày của nguyên đơn.
Thửa 1239, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C có nguồn gốc là của ông bà để lại cho ông Đặng Văn K1 sử dụng từ trước năm 1975 và ông K1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 14/10/2004. Sau đó ông K1 tặng cho 03 người con gái gồm: bà Đặng Kim L3, bà Đặng Thị K2 bà Đặng Thị L mỗi người 1.000m², phần ông K1 còn lại sau khi tặng cho các con là 2.466m² để ông dưỡng già. Sau khi được cho đất thì bà Đặng Kim L3 và bà Đặng Thị K2 không canh tác mà bán laị cho bà L. Riêng 2.466m² ông K1 cũng cho bà L canh tác để nuôi ông K1 cho đến khi ông qua đời. Năm 2015, ông K1 làm hợp đồng tặng cho thửa 1239, tờ bản đồ số 4 để bà L được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên đối với toàn bộ diện tích 5.466m² đất nêu trên. Diện tích đất đo đạc thực tế là 6.324,2m² trong phạm vi từ mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M8-M9-M10-M11-M1 của Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (theo Biên bản xem xét thẩm định ngày 04/10/2023)
Khi nhận đất canh tác vào năm 2014 thì bà L đã khai phá các cây tạp và sử dụng đất để trồng xoài Đài Loan và thu hoạch cho đến tháng 8/2022. Trong quá trình bà L sử dụng đất thì ông P và thành viên hộ ông P không ngăn cản hay tranh chấp gì với bà L. Thửa đất 1239, tờ bản đồ số 4 có vị trí tứ cận như sau:
- Phía trước hướng ra lộ nông thôn giáp đất ông Nguyễn Văn L2 và ông Nguyễn Văn Ú có chiều ngang khoảng 116m.
- Phía sau hậu hướng kênh thủy lợi giáp đất ông Nguyễn Văn P1 và ông Huỳnh Văn C1 có chiều ngang khoảng 116m.
- Phía bên phải (hướng nhìn từ lộ nông thôn vào) giáp đất ông L4 có chiều dài khoảng 52m.
- Phía bên trái (hướng nhìn từ lộ nông thôn vào) giáp đất ông Nguyễn Văn S có chiều dài khoảng 50m.
Thửa đất 1239, tờ bản đồ số 4 hiện nay do ông Nguyễn Văn S quản lý sử dụng. Bà L chuyển nhượng cho ông S với giá 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng) ông S đã thanh toán 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) cho bà L và ông S nhận đất canh tác vào tháng 8/2022 (âm lịch). Số tiền còn lại là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) giữa ông S và bà L thỏa thuận làm thủ tục sang tên và khi ông S được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ thanh toán đủ cho bà L.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông P1 thì bà L không đồng ý. Bà L có đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung sau:
- Bà Đặng Thị L yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Đặng Văn P vào ngày 02/8/2010.
- Yêu cầu công nhận cho bà Đặng Thị L được quyền tiếp tục sử dụng phần đất đo đạc thực tế là 6.324,2m² trong phạm vi từ mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M8-M9-M10-M11-M1 của Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (theo Biên bản xem xét thẩm định ngày 04/10/2023).
Bà L đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản của Tòa án và đồng ý với sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C. Hiện trạng diện tích đất tranh chấp không có gì thay đổi so với thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1239, tờ bản đồ số 4 hiện bà L đang giữ bản chính, không có cầm cố thế chấp hay thực hiện bất kỳ giao dịch dân sự nào khác. Ngoài ra, bà L không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
Tại phiên toà bà L thay đổi yêu cầu và rút một phần yêu cầu phản tố, cụ thể bà L yêu cầu Toà án giải quyết nội dung như sau:
- Bà Đặng Thị L yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Đặng Văn P vào ngày 02/8/2010.
- Yêu cầu công nhận cho bà Đặng Thị L được quyền tiếp tục sử dụng phần đất đo đạc thực tế là 2505,8m² trong phạm vi từ mốc M7-M8-M9-M10 trở về M7 của Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (theo Biên bản xem xét thẩm định ngày 04/10/2023).
- Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà bà Đặng Thị L là người đại diện theo uỷ quyền của Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn T5 trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của anh Nguyễn Trường T2.
- Trong quá trình giải quyết ông Nguyễn Văn S trình bày:
Thửa đất 1239, tờ bản đồ số 4 hiện nay do ông S và vợ là bà K quản lý sử dụng có nguồn gốc là bà L chuyển nhượng cho ông S với giá 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng) ông S đã thanh toán 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) cho bà L và nhận đất canh tác vào tháng 8/2022 (âm lịch) cho đến nay. Số tiền còn lại là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) giữa ông S và bà L thỏa thuận làm thủ tục sang tên và khi ông S được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ thanh toán đủ cho bà L.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông P yêu cầu ông tháo dỡ di dời toàn bộ công trình vật kiến trúc và các tài sản khác để trả lại cho ông P phần đất có diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C thì ông S không đồng ý.
Ông S đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản của Tòa án và đồng ý với sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C. Hiện trạng diện tích đất tranh chấp không có gì thay đổi so với thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ.
Ông S không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà L, ông S không có nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Khi có yêu cầu ông S sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Ngoài ra, ông S không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
- Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà Luật sư Võ Thị T trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày của ông Đặng Văn P. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn P.
- Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà Luật sư Phạm Hoàng Đ trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày của bà Đặng Thị L và anh Nguyễn Trường T2. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị L.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ gồm:
- Nguyên đơn cung cấp:
- CCCD của Đặng Văn P (bản photo);
- 01 (một) Hợp đồng ủy quyền ngày 16/10/2023 (bản chính);
- 01 (một) Công văn số 3034/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT ngày 13/3/2023;
- Trích lục bản đồ địa chính thửa đất 1268 (Bản chính);
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên thửa 1268, tờ bản đồ số 8 (bản photo);
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất + bản đồ địa chính khu đất (trích lục) thửa 1187 và 1268 (bản sao).
- Biên bản hòa giải không thành ngày 03/3/2023 (bản chính);
- Giấy xác nhận của ông Lê Thanh H1 đề ngày 18/12/2023 (bản chính).
- Bị đơn cung cấp:
- Hợp đồng ủy quyền ngày 16/6/2023 (bản chính);
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1268, tờ bản đồ số 04 và thửa 1239, tờ bản đồ số 04 (bản photo);
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa 1239, tờ bản đồ số 4 (bản photo)
- Biên bản hòa giải không thành ngày 03/3/2023 (bản photo);
- Hợp đồng mua bán đất ngày 24/8/2022 (bản photo);
- Tờ tường trình của bà Đặng Thị L đề ngày 05/4/2024;\
- Văn bản đề ngày 28/02/2024 của: ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn Bé N1, ông Nguyễn Văn Ú, ông Nguyễn Văn L2, bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị V, ông Đặng Văn N2, ông Đặng Cao K3 (chữ viết tay).
- Giấy xác nhận đề ngày 29/02/2024 của bà Đặng Kim L3, Đặng Thị K2.
- Văn bản ý kiến của bà Đặng Thị L đề ngày 31/5/2024.
- Tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập:
- Biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 04/10/2023.
- Biên bản định giá tài sản ngày 10/11/2023.
- Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (theo Biên bản xem xét thẩm định ngày 04/10/2023).
- Công văn số 1937/UBND-HC ngày 09/9/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C.
- Công văn số 2006/CAH –QLHC ngày 22/10/2024 của Công an huyện C.
- Công văn số 2699/UBND-HC ngày 19/12/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C.
- Biên bản lấy lời khai ông Đặng Văn P ngày 10/01/2025.
- Biên bản lấy lời khai bà Đặng Thị L ngày 10/01/2025.
Ngoài ra, không ai không bổ sung tài liệu, chứng cứ nào khác.
Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và thu thập đã được thông báo công khai cho bị đơn nhưng không ai có ý kiến phản bác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về tố tụng: Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành tốt pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn P về việc:
- Yêu cầu bà Đặng Thị L trả lại cho gia đình ông Phương diện T6 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
- Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đặng Thị L với ông Nguyễn Văn S đối với diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
- Buộc bà Đặng Thị L với ông Nguyễn Văn S tháo dỡ di dời toàn bộ công trình vật kiến trúc và các tài sản khác của ông S, bà L để trả lại phần đất có diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đặng Thị L về việc công nhận diện tích đất theo đo đạc thực tế là 2.505,8m² là thuộc thửa 1239, tờ bản đồ số 4, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, Đồng Tháp cho bà Đặng Thị L. Trong phạm vi các mốc M7-M8-M9-M10-M7, theo sơ đồ đo đạc ngày 04/10/2023 của Chi nhánh V1 đăng ký đất đai huyện C.
- Đình chỉ một phần yêu cầu của bà Đặng Thị L, trong việc yêu cầu công nhận được quyền tiếp tục sử dụng phần đất đo đạc thực tế là 3.818,4m² trong phạm vi từ mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M10-M11-M1 của Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (theo Biên bản xem xét thẩm định ngày 04/10/2023).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp, căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn, và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp dân sự -Quyền sử dụng đất”, theo quy định tại Khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về thẩm quyền giải quyết, xét thấy: Đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã B, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị K, ông L2, Ủy ban nhân dân huyện C tất cả đều có đơn xin xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên.
Về nội dung:
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Văn P về việc:
- Ông Đặng Văn P yêu cầu bà Đặng Thị L trả lại cho gia đình ông Phương diện T6 2.505,8m² thuộc thửa 1268 trong phạm vi từ mốc M7-M8-M9-M10-M7, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
- Ông Đặng Văn P yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đặng Thị L với ông Nguyễn Văn S đối với diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
- Buộc bà Đặng Thị L với ông Nguyễn Văn S tháo dỡ di dời toàn bộ công trình vật kiến trúc và các tài sản khác của ông S, bà L để trả lại phần đất có diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
- Hội đồng xét xử xét thấy: Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 1268 có diện tích đo đạc thực tế 2.505,8m² trong phạm vi từ mốc M7-M8-M9-M10-M7, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, các đương sự thống nhất có nguồn gốc là của ông Đặng Văn K1.
- Nguyên đơn ông Đặng Văn P trình bày, phần đất tranh chấp là thuộc thửa đất số 1268 tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, được ông K1 tặng cho và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2010. Ông P canh tác đất đến năm 2014 thì ông P cho bà Đặng Thị L mượn canh tác. Do mối quan hệ là anh em ruột nên việc ông P cho bà L mượn đất canh tác không có làm giấy tờ. Bà L canh tác đất từ năm 2014 cho đến nay. Thời gian gần đây ông P thấy ông Nguyễn Văn S sử dụng phần đất mà ông P đang cho bà L mượn và tìm hiểu biết được bà L đã chuyển nhượng phần đất này cho ông S, nên ông P tranh chấp.
- Bị đơn bà Đặng Thị L trình bày, phần đất tranh chấp là thuộc thửa 1239, diện tích 5.466m², tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C có nguồn gốc là của ông K1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 14/10/2004. Sau đó ông K1 tặng cho 03 người con gái gồm: bà Đặng Kim L3, bà Đặng Thị K2 bà Đặng Thị L mỗi người một công, phần ông K1 còn lại sau khi tặng cho các con là khoảng 2 công để ông K1 dưỡng già. Sau khi được cho đất thì bà Đặng Kim L3 và bà Đặng Thị K2 không canh tác mà chuyển nhượng lại cho bà L (có làm giấy tay mua bán). Riêng 2 công của ông K1 cũng cho bà L canh tác để nuôi ông K1 cho đến khi ông qua đời. Vì vậy, ông Đặng Văn K1 đã làm hợp đồng tặng cho hết thửa 1239 cho bà L và bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 1239, diện tích 5.466m², tờ bản đồ số 4 vào ngày 22/9/2015. Phần đất ông Đặng Văn P được ông K1 cho là thửa 1301, tờ bản đồ số 4 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù ông P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp phù hợp với Công văn số 1937/UBND-HC ngày 9/9/2024 và Công văn số 2699/UBND-HC ngày 18/12/2024 Ủy ban nhân dân huyện C.
- Nhưng quá trình sử dụng phần đất tranh chấp là do bà L sử dụng liên tục từ năm 2015 cho đến khi chuyển nhượng cho ông S, là phù hợp với lời thừa nhận của ông P là do bà L sử dụng. Ngoài ra, cũng phù hợp với lời khai của các anh em trong gia đình (ông Đặng Văn N2, bà Đặng Thị K2, bà Đặng Kim L3) thừa nhận bà L được ông K1 cho và đứng tên quyền sử dụng đất đối với thửa 1239, diện tích 5.466m², tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C phù hợp với Công văn số 1937/UBND-HC ngày 9/9/2024 và Ủy ban nhân dân huyện C trả lời thửa 1239 được cấp lần đầu cho ông Đặng Văn K1 ngày 14/10/2004. Ngày 9/9/2015 hộ ông Đặng Văn K1 tặng cho bà Đặng Thị L với diện tích 5.466m². Ngoài ra, lời khai những người làm chứng (ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn Bé N1, ông Nguyễn Văn Ú, ông Nguyễn Văn L2, bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị V, Đặng Cao K3) đều xác định thửa đất tranh chấp là của bà L và do bà L sử dụng.
- Ông P cho rằng ông được ông K1 cho thửa đất tranh chấp. Sau đó ông P cho bà L mượn thửa đất này để canh tác từ năm 2015, nhưng ông P không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho bà L mượn. Ngoài ra trong quá trình sử dụng thửa đất tranh chấp, bà L đã thay đổi hiện trạng đất lên liếp trồng xoài, đến khi sang nhượng cho ông S, thì ông S đã bơm cát, san lắp mặt bằng, ông P cũng không ngăn cản. Sự việc này, ông P nại ra lý do cho rằng anh em ruột nên tin tưởng, vì vậy, khi cho mượn không có làm giấy tờ và việc ông S san lắp có ngăn cản nhưng do không biết nên chỉ ngăn cản bằng miệng không có làm đơn. Nhưng đây chỉ là những lời khai nại không có căn cứ nên không được chấp nhận.
- Do đó có đủ cơ sở xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 1268 có diện tích đo đạc thực tế 2.505,8m² trong phạm vi từ mốc M7-M8-M9-M10-M7, thuộc tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C là của bà Đặng Thị L. Vì vậy, đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P là không có cơ sở chấp nhận.
- Xét yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đặng Thị L.
Tại phiên toà anh Nguyễn Trường T2 là người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Đặng Thị L xác định bà L thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện, bà L yêu cầu được tiếp tục sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C. Cụ thể trong phạm vi các mốc từ M7-M8-M9-M10-M7 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Bà Đặng Thị L yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Đặng Văn P vào ngày 02/8/2010.
Rút lại yêu cầu đối với phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 3818,4m² thuộc thửa 1239, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C. Cụ thể trong phạm vi mốc các mốc từ M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M10-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Do đó, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu này của bà L.
Đối với yêu cầu phản tố của bà L là có cơ sở như đã nhận định trên, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà L.
- Theo Công văn số 2699/UBND-HC ngày 18/12/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C xác định phần diện tích 2505,8m² trong phạm vi các mốc từ M7-M8-M9-M10-M7 là thuộc một phần thửa số 1240, thửa đất số 1268 và một phần thửa 1301 cùng tờ bản đồ số 04 (bản đồ chính quy), đất tọa lạc tại xã B, huyện C, nhưng ông Nguyễn Văn L2 và ông Đặng Văn P đều có ý kiến thống nhất ranh xác định theo sơ đồ đo đạc ngày 04/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Do đó các đương sự không tranh chấp ranh với nhau, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn S và bà Đặng Thị L, do ông S và bà L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Từ những cơ sở nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Văn P, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đặng Thị L về việc công nhận cho bà Đặng Thị L được quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất theo đo đạc thực tế diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C. Cụ thể trong phạm vi các mốc từ M7-M8-M9-M10-M7 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Đình chỉ một phần yêu cầu của bà Đặng Thị L, trong việc yêu cầu công nhận được quyền tiếp tục sử dụng phần đất đo đạc thực tế là 3.818,4m² trong phạm vi từ mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M10-M11-M1 của Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (theo Biên bản xem xét thẩm định ngày 04/10/2023).
- Xét đề nghị của Luật sư Võ Thị T về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ nên không được chấp nhận
- Xét đề nghị của Luật sư Phạm Hoàng Đ về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn Đặng Thị L là có căn cứ nên được chấp nhận.
- Xét Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng, của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Văn P, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đặng Thị L là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí:
- Ông Đặng Văn P phải chịu 12.215.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.375.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000827 ngày 22/5/2023 và biên lai thu số 0001187 ngày 25/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, ông P còn phải nộp thêm số tiền là 7.840.000 đồng (Bảy triệu, tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Bà Đặng Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004263 ngày 02/8/2023 và biên lai thu số 0008467 ngày 05/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
- Chi phí tố tụng:
- Ông Đặng Văn P phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản số tiền là 8.911.000 đồng (ông P đã nộp và chi xong).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 227, Điều 228; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 163, Điều 164, Điều 166 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013, Điều 223, Điều 236 Luật đất đai năm 2024.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn P về việc:
- Ông Đặng Văn P yêu cầu bà Đặng Thị L trả lại cho gia đình ông Phương diện T6 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
- Ông Đặng Văn P yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đặng Thị L với ông Nguyễn Văn S đối với diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
- Buộc bà Đặng Thị L với ông Nguyễn Văn S tháo dỡ di dời toàn bộ công trình vật kiến trúc và các tài sản khác của ông S, bà L để trả lại phần đất có diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Đặng Văn P đứng tên.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố bị đơn bà Đặng Thị L.
Công nhận cho bà Đặng Thị L được quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất theo đo đạc thực tế diện tích 2.505,8m² thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Cụ thể trong phạm vi các mốc từ M7-M8-M9-M10-M7 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Ông Đặng Văn P, bà Đặng Thị L có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất đã được Tòa án công nhận quyền sử dụng theo bản án đã tuyên.
Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau: BB 530001, số vào sổ cấp GCN: CH00194 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 02/8/2010, cho hộ ông Đặng Văn P diện tích 2508 m² (diện tích đo đạc thực tế 2.505,8m²), thuộc thửa 1268, tờ bản đồ số 4, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để cấp lại cho bà Đặng Thị L theo bản án đã tuyên.
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/10/2023, và sơ đồ đo đạc ngày 04/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
- Về án phí:
- Ông Đặng Văn P phải chịu 12.215.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.375.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000827 ngày 22/5/2023 và biên lai thu số 0001187 ngày 25/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, ông P còn phải nộp thêm số tiền là 7.840.000 đồng (Bảy triệu, tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Bà Đặng Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004263 ngày 02/8/2023 và biên lai thu số 0008467 ngày 05/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
- Về chi phí tố tụng:
- Ông Đặng Văn P phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản số tiền là 8.911.000 đồng (ông P đã nộp và chi xong).
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa khi tuyên án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Trịnh Thùy Vân |
HỘI THẨM NHÂN DÂN Võ Thị Điệp - Hồ Thị Mai Hương | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ngọc Minh |
Bản án số 119/2025/DS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 119/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông P và bà L
