Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:119/2025/DS-PT

Ngày 25 tháng 11 năm 2025

V/v: “Kiện đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Anh Đức

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Phương Thanh, bà Trương Thị Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 106/2025/TLPT ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc: "Kiện đòi tài sản", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2025/QĐ-PT ngày 14/11/2025, giữa:

  • - Nguyên đơn: Chị Cầm Thị H, sinh năm 1978;

    Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị T - Luật sư thuộc Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh T.

  • - Bị đơn: Chị Dương Thị N, sinh năm 1977;

    Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

  • Người kháng cáo: Bị đơn chị Dương Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai tại phiên toà, nguyên đơn chị Cầm Thị H trình bày:

Do có mối quan hệ trong gia đình, nên ngày 02/11/2014 chị Cầm Thị H cho chị Dương Thị N vay số tiền 110.000.000đ, tiếp đó ngày 12/11/2014 chị H cho chị N vay tiếp số tiền 60.000.000đ, thời hạn vay đến ngày 22/11/2014 chị N có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền trên cho chị H, giấy vay không thể hiện lãi suất và ngày 15/02/2018 chị H tiếp tục cho chị N vay số tiền 110.000.000đ, thời hạn vay đến hết tháng 3 âm lịch năm 2015, không thể hiện lãi suất. Hai bên viết giấy vay và bản cam kết. Tổng số tiền vay là 280.000.000đ.

Sau nhiều lần đòi nợ nhưng chị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng như đã cam kết, qua nhiều lần khất nợ, chị N vẫn không có thiện chí trả tiền cho chị H số tiền 280.000.000đ. Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của chị N đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị H. Vì vậy, chị H khởi kiện đề nghị chị Dương Thị N có trách nhiệm trả nợ cho chị số tiền là 280.000.000đ, không yêu cầu lãi suất.

Ngày 22/7/2025, chị H có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: quá trình thực hiện hợp đồng của 03 khoản vay trên, chị N đã thanh toán cho chị H 31.000.000đ, và khoản vay thể hiện trong bản cam kết ngày 15/02/2018 do khoản vay này có số tiền 110.000.000đ trùng với số tiền của khoản vay ngày 02/11/2014 nên chị H xin rút yêu cầu đối với số tiền của khoản vay ngày 15/02/2018, khi nào có đủ chứng cứ chị sẽ khởi kiện chị N bằng một vụ án khác. Chị H đề nghị Tòa án buộc chị N phải thanh toán cho chị số tiền nợ gốc 139.000.000đ của 02 khoản vay và không yêu cầu lãi suất.

2. Bị đơn chị Dương Thị N trình bày:

Chị Cầm Thị H chuyên cho người dân vay lãi nặng, lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày. Do cần tiền để giải quyết công việc, chị có vay của chị H số tiền gốc là 110.000.000đ, chốt lần 1 ngày 15/02/2018, chốt lần 2 ngày 24/10/2023. Thực hiện hợp đồng vay, năm 2014 chị N đã trả cho chị H 20.000.000đ tiền gốc, năm 2017 trả cho chị H 20.000.000đ tiền gốc, năm 2020 trả cho chị H 20.000.000đ tiền gốc. Tổng số tiền gốc đã thanh toán cho chị H là 60.000.000đ, số tiền gốc còn nợ chị H đến thời điểm hiện tại là 50.000.000đ.

Tại biên bản hòa giải lần 1, ngày 23 tháng 6 năm 2025, chị Dương Thị N trình bày: chị không đồng ý với chị H về số tiền vay như chị H trình bày, do chị cần tiền để giải quyết công việc nên chị có vay của chị Cầm Thị H 02 lần và ngày 15/02/2018 chốt lại với số tiền là 110.000.000đ, quá trình thực hiện hợp đồng vay chị đã trả tiền gốc cho chị H 03 lần là 60.000.000đ, chị khẳng định chị chỉ còn nợ lại chị H số tiền gốc là 50.000.000₫

Tại biên bản hòa giải lần 2, ngày 14/8/2025, chị N trình bày, tổng số tiền gốc chị vay chị H 02 lần là 110.000.000đ, chị đã thanh toán tiền nợ gốc cho chị H 03 lần là 60.000.000đ và chị H thừa nhận trong tổng số các lần chị trả cho chị H số tiền 31.000.000đ, có 20.000.000đ chị đã trả cho chị H ở lần trả thứ hai và 11.000.000đ chị đã trả cho chị H, chị khẳng định đã trả cho chị H được số tiền 71.000.000đ tiền gốc, số tiền gốc còn nợ lại chị H là 39.000.000đ, chị có trách nhiệm trả cho chị H trong vòng 03 tháng.

3. Tại bản án sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa, đã Quyết định:

Căn cứ vào: khoản 2 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 235; Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15; Điều 255; Điều 256 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 357; Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; điểm b tiểu mục 1.3, mục II danh mục án phí Tòa án.

Xử:

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Cầm Thị H về việc yêu cầu bị đơn Dương Thị N phải trả số tiền nợ gốc là 141.000.000đ (Một trăm bốn mốt triệu đồng).

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Cầm Thị H. Buộc bị đơn Dương Thị N trả cho nguyên đơn Cầm Thị H số tiền là 139.000.000đ (Một trăm ba chín triệu đồng) ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí dân sự sơ thẩm và giành quyền kháng cáo theo quy định.

4. Sau khi xét xử sơ thâm, ngày 16 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá nhận được đơn kháng cáo của bị đơn chị Dương Thị N với nội dung:

Kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa.

5. Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên kháng cáo. Các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đảm bảo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự tại cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, quyết định theo hướng: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Dương Thị N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa.

Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và kiểm tra chứng cứ căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hình thức:

Tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp về kiện đòi tài sản. Bị đơn có nơi cư trú tại xã T, tỉnh Thanh Hóa. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15.

Về thời hiệu khởi kiện: Mặc dù các khoản vay phát sinh từ các năm 2014 và 2018, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, cả nguyên đơn và bị đơn đều không có yêu cầu áp dụng thời hiệu. Căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án mà không xem xét về thời hiệu là đúng pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo trong thời hạn quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về nội dung vụ án:

Ngày 02/11/2014, chị H cho chị N vay số tiền 110.000.000đ. Ngày 12/11/2014, chị H cho chị N vay tiếp số tiền 60.000.000đ, thời hạn vay đến ngày 22/11/2014 chị N có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền trên cho chị H, giấy vay không thể hiện lãi suất. Đến ngày 15/02/2018, chị H tiếp tục cho chị N vay số tiền 110.000.000đ, thời hạn vay đến hết tháng 3 âm lịch năm 2015, không thể hiện lãi suất. Hai bên viết giấy vay và bản cam kết. Tổng số tiền vay là 280.000.000đ. Ngày 22/7/2025, chị H có đơn gửi Tòa án rút một phần yêu cầu khởi kiện của mình đối với số tiền 141.000.000đ, và buộc chị N phải thanh toán cho chị số tiền 139.000.000đ của 02 khoản vay và không yêu cầu lãi suất.

Chị N không thừa nhận số tiền nợ gốc 280.000.000đ như chị H trình bày mà chị N cho rằng số tiền nợ gốc chị vay chị H là 110.000.000đ vào năm 2014, quá trình thực hiện hợp đồng vay, do khó khăn về kinh tế, chị N không trả được tiền lãi, nên chị H cộng cả tiền gốc vay và tiền lãi là 280.000.000đ; ngày 24/10/2023 chị đã nhắn tin qua Z chốt nợ với chị H là 110.000.000đ của khoản vay (chị đã in và gửi tài liệu này cho Toà án). Chị N cho rằng chị vay tiền của chị H với lãi suất cao, số tiền nợ gốc là do chị H cộng dồn lãi suất. Toà án cấp sơ thẩm đã ra quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, nhưng chị N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh chị H cho chị N vay tiền với lãi suất cao và giấy tờ chứng minh chị N đã trả tiền nợ gốc, tiền lãi cho chị H đối với khoản vay trên.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:

Bị đơn cho rằng số tiền 139.000.000₫ nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả là tiền gốc và lãi cộng dồn, và xem xét nguyên đơn có hành vi cho vay lãi nặng.

Theo Giấy nhận vay tiền ngày 02/11/2014 và ngày 12/11/2014, chị Dương Thị N có vay của chị Cầm Thị H tổng số tiền 170.000.000đ, hẹn đến ngày 22/11/2014 sẽ trả đầy đủ, giấy vay tiền không thể hiện lãi suất, có chữ ký của chị Dương Thị N và chị Cầm Thị H. Quá trình giải quyết sơ thẩm, chị H thừa nhận chị N đã trả cho chị 31.000.000đ, nên chị yêu cầu chị N phải trả cho chị 139.000.000đ và không yêu cầu lãi suất.

Bị đơn chị Dương Thị N nhiều lần thay đổi lời khai về số tiền đã trả cho chị Cầm Thị H, khi thì khai đã trả 60.000.000đ, khi thì đã trả 71.000.000đ, nhưng không đưa ra được giấy tờ chứng minh hoặc xác nhận của nguyên đơn về việc đã thanh toán tiền nợ cho nguyên đơn.

Vì vậy, kháng cáo của bị đơn cho rằng số tiền nhận nợ với nguyên đơn là tiền gốc, lãi cộng dồn, và nguyên đơn có hành vi cho vay lãi nặng là không có căn cứ. Hội đồng xét xử xác định bị đơn chị Dương Thị N có nghĩa vụ phải trả cho nguyên đơn chị Cầm Thị H số tiền 139.000.000đ như bản án sơ thẩm đã tuyên là có cơ sở. Kháng cáo của chị N không được chấp nhận.

[4] Về án phí phúc thẩm: Bị đơn kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 255; Điều 256 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 357; Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015. Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Không chấp nhận đơn kháng cáo bị đơn chị Dương Thị N.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa.

Buộc bị đơn Dương Thị N trả cho nguyên đơn Cầm Thị H số tiền là 139.000.000đ (Một trăm ba mươi chín triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Chị Dương Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002092 ngày 01/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 - Thanh Hoá. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - TAND KV10 - Thanh Hoá;
  • - VKSND KV10 - Thanh Hoá;
  • - Phòng THADS KV10 - Thanh Hoá;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Anh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2025/DS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 119/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do có mối quan hệ trong gia đình, nên ngày 02/11/2014 chị Cầm Thị H cho chị Dương Thị N vay số tiền 110.000.000đ, tiếp đó ngày 12/11/2014 chị H cho chị N vay tiếp số tiền 60.000.000đ, thời hạn vay đến ngày 22/11/2014 chị N có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền trên cho chị H, giấy vay không thể hiện lãi suất và ngày 15/02/2018 chị H tiếp tục cho chị N vay số tiền 110.000.000đ, thời hạn vay đến hết tháng 3 âm lịch năm 2015, không thể hiện lãi suất. Hai bên viết giấy vay và bản cam kết. Tổng số tiền vay là 280.000.000đ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger