TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/HS-ST Ngày: 22/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Quế; bà Nguyễn Thị Kim Huế.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Duy T; sinh năm 1984; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số C đường B, Tổ dân phố D, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Trần Đình Q, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Đinh Thị L, sinh năm 1961; trú tại thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; có vợ tên Lê Thị Uyên N, sinh năm 1990; trú tại thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/04/2024 đến ngày 12/04/2024 được tại ngoại (có mặt).
Bị hại:
1. Cháu Lưu An N1, sinh năm 2020 (đã chết); Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Lưu Văn Đ, sinh năm 1984 (là bố cháu Lưu An N1); trú tại: Thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
2. Chị Bùi Thị L1, sinh năm 1982; trú tại: Thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH V. Địa chỉ: Số C đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trần K, sinh măm 1968; Chức vụ: Gám đốc; trú tại: Số C đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Duy T là người đã có giấy phép lái xe hạng FC theo quy định. Vào ngày 04/04/2024, T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 49H-028.30 kéo theo rơ móoc biển số 49R-004.70, lưu thông trên Quốc lộ B, theo hướng từ Thành phố Đ đi Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, T điều khiển xe đến Km 107 + 200 Quốc lộ B, thuộc Thôn E, xã Đ, thành phố B thì phát hiện xe bị nổ 01 chiếc lốp ở phía sau nên T điều khiển xe lùi lại để vào 01 gara ở gần đó vá lốp. Tuy nhiên, khi lùi xe T đã chủ quan không nhờ người dẫn đường mà chỉ quan sát hai bên gương chiếu hậu. Vì vậy, phần đuôi xe ô tô do T điều khiển đã va chạm với xe mô tô biển số 49K1-145.94, do chị Bùi Thị L1 điều khiển, chở theo 03 cháu nhỏ gồm: Cháu Lưu An N1, sinh năm 2020, cháu Lưu Trọng K1, sinh năm 2017 ( đều là con chị L1), và cháu Trần Nhật M, sinh năm 2013 (là cháu chị L1), đang lưu thông theo hướng từ Đ đi Thành phố Hồ Chí Minh. Hậu quả làm cháu L2 An Nhiên tử vong, chị Bùi Thị L1 bị thương với tỷ lệ 11%, xe mô tô biển số 49K1-145.94 bị hư hỏng nhẹ.
Sau khi tiếp nhận thông tin vụ tai nạn, Phòng C Công an tỉnh L đã phối hợp với Công an thành phố B và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tổ chức khám nghiệm hiện trường xác định: Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 107 + 200, Quốc lộ B, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Mặt đường Quốc lộ 20 được trải nhựa bằng phẳng rộng 7,8m. Ở giữa đường có vạch sơn đứt đoạn màu vàng kẻ tim đường, phần đường bên phải theo hướng Đ đi thành phố Hồ Chí Minh rộng 3,7m. Lấy hướng từ Thành phố Đ đi Thành phố Hồ Chí Minh làm hướng khám nghiệm, lấy mép đường bên phải Quốc lộ 20 theo hướng trên làm hướng khám nghiệm, lấy trụ điện số 480/2/132/7 làm mốc cố định, xác định vị trí các dấu vết như sau:
Sau tai nạn trên mặt đường để lại 02 vết cày xước và 02 vết máu mô thịt. Vết vết cày xước thứ nhất dài 1,5m, chiều hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đ. Tâm điểm đầu vết cày xước cách mép đường chuẩn là 1,7m, cách mốc cố định 34,2m; tâm điểm cuối số vết cày xước cách mép đường chuẩn là 2,05m. Vết cày xước thứ 2 kéo dài 2,85m, đến vị trí xe mô tô 49K1-145.94 đổ nằm trên mặt đường, chiều hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đ; tâm điểm đầu vết cày xước thứ 2 cách mép đường chuẩn 2,1m, cách tâm điểm đầu vết cày xước thứ nhất 0,8m. Vết máu mô thịt thứ nhất, kích thước 0,4m x 0,5m. T1 vết máu mô thịt thứ nhất cách mép đường chuẩn 2,45m, cách tâm điểm đầu vết cày xước thứ 2 là 0,3m. Vết máu mô thịt thứ 2, kích thước 0,3m x 0,3m. T1 vết máu mô thịt thứ 2 cách mép đường chuẩn 2,4m, cách tâm vị trí vết máu mô thịt thứ nhất là 0,8m.
Xe mô tô 49K1-145.94 đổ nằm trên mặt đường, đầu xe quay về hướng thành phố Hồ Chí Minh, đuôi xe quay về hướng Đ; tay lái xe mô tô bị mắc kẹt vào cản sau của rơ móoc xe đầu kéo. Hình chiếu tâm trục bánh trước xe mô tô xuống mặt đường cách mép đường chuẩn là 1,5m; hình chiếu tâm trục bánh sau xe mô tô xuống mặt đường cách mép đường chuẩn là 2,3m. Cách tâm vết máu mô thịt thứ 2 là 0,6m. Xe ô tô tải biển số 49H-028.30, kéo rơ móoc biển số 49R-004.70 đậu tại hiện trường, đầu xe quay về hướng Thành phố Hồ Chí Minh, đuôi quay về hướng Đ, hình chiếu tâm trục bánh sau cùng bên phải của rơ móoc xuống mặt đường cách mép đường chuẩn 0,6m; hình chiếu tâm đầu trục bánh trước (đầu tiên) của xe ô tô tải xuống mặt đường cách mép đường chuẩn 0,6m.
T1 đầu trục bánh sau cùng bên phải của rơ móọc cách tâm đầu trục bánh sau xe mô tô 49K1-145.94 là 2,7m.
Theo kết luận giám định pháp y ngày 08/04/2024, của Phòng K3 Công an tỉnh L kết luận, nguyên nhân chết của cháu Lưu An N1 là do chấn thương sọ não. Theo kết luận giám định tổn thương cơ thể ngày 27/05/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Bùi Thị L1 là 11%. Theo kết luận giám định dấu vết cơ học ngày 12/07/2024, của Phòng K3 công an tỉnh L kết luận: Vết trượt lấy đi vật chất bám dính mặt dưới thanh đòn dẫn động phanh hàng bánh thứ ba bên trái của rơ móoc biển số 49R-004.70, phù hợp với vết vỡ khuyết nhựa, vết bám dính chất màu nâu đen tại mặt ngoài ốp đèn báo rẽ trước bên phải của xe mô tô biển số 49K1-145.94.
Quá trình điều tra xác định, xe ô tô đầu kéo do Trần Duy T điều khiển thuộc sở hữu của Công ty TNHH V, đang vận chuyển khoáng sản theo hợp đồng mua bán giữa Công ty TNHH A K2 với Công ty Cổ phần Đ1. Kết quả cân khối lượng xe ô tô đầu kéo biển số 49H-028.30 chở quá tải trọng 102.08% (31,950kg).
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ sau đó trả lại 02 chiếc xe liên quan đến tai nạn cho chủ sở hữu. Hiện đang tạm giữ 01 giấy phép lái xe mang tên Bùi Thị L1. Riêng 01 giấy phép lái xe hạng FC tạm giữ của bị cáo Trần Duy T, 01 phù hiệu số 065ĐK/2023 của xe ô tô 49H-028.30, hiện nay Cơ quan điều tra đã chuyển đến Phòng C Công an tỉnh L để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn bị cáo Trần Duy T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại (cháu Lưu An N1) số tiền 200.000.000 đồng; bồi thường cho chị Bùi Thị L1 số tiền 30.000.000 đồng. Đại diện Công ty TNHH V tự nguyện hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại là anh Lưu Văn Đ đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho Trần Duy T và không yêu cầu gì thêm. Sau khi xảy ra tai nạn, bị can Trần Duy T đã chủ động đến Cơ quan điều tra đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 112/CT-VKSBL, ngày 25 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Trần Duy T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Trần Duy T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Về xử lý vật chứng, đề nghị trả cho chị Bùi Thị L1 01 giấy phép lái xe.
Bị cáo Trần Duy T khai nhận, đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nêu, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng, thấy đúng với tội của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện gia đình bị hại, anh Lưu Văn Đ trình bày, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo Trần Duy T và chủ xe đã bồi thường cho gia đình anh đầy đủ, nay anh không yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Duy T, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi liên quan đến vụ án không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
[2] Về căn cứ xác định tội: Tại phiên toà, bị cáo Trần Duy T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai nhân chứng, vật chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Vào ngày 04/04/2024, bị cáo Trần Duy T đã điều khiển xe ô tô tải biển số 49H-028.30, kéo rơ móoc biển số 49R-004.70, lưu thông trên Quốc lộ B, theo hướng từ Thành phố Đ đi Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến Km 107 + 200 Quốc lộ B, thuộc Thôn E, xã Đ, thành phố B thì bị cáo phát hiện xe ô tô bị nổ 01 lốp phía sau, vì vậy bị cáo đã điều khiển xe lùi lại để vá lốp. Tuy nhiên, khi lùi xe bị cáo đã chủ quan chỉ nhìn qua gương chiếu hậu hai bên mà không nhờ người dẫn đường, vì vậy phần đuôi xe của bị cáo đã va chạm với xe mô tô biển số 49K1-145.94, do chị Bùi Thị L1 điều khiển chở 03 cháu nhỏ, đang lưu thông cùng chiều phía sau. Hậu quả làm cháu L2 An Nhiên tử vong, chị Bùi Thị L1 bị thương tích với tỷ lệ 11%.
Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Duy T đã vi phạm khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ, phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo T về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội: Bị cáo Trần Duy T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi vô ý. Bị cáo đã được học luật giao thông đường bộ và biết rõ, khi lùi xe người điều khiển xe phải quan sát phía sau, có tín hiệu cần thiết và chỉ khi nào thấy không nguy hiểm mới được lùi xe, nhưng bị cáo đã không chấp hành; từ đó đã gây ra tai nạn giao thông, gây nên cái chết cho cháu L2 An Nhiên và thương tích cho chị Bùi Thị L1. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông mà còn gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một hình phạt phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Duy T là người có nhân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, được gia đình bị hại viết đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt;
sau khi gây tai nạn đã đến Cơ quan điều tra đầu thú nên được áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có việc làm và nơi cư trú ổn định nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 02 chiếc xe liên quan đến tai nạn cùng giấy tờ của xe, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên không đề cập đến. Đối với 01 giấy phép lái xe của chị Bùi Thị L1 đang tạm giữ thì trả lại cho chị L1. Riêng đối với 01 giấy phép lái xe ô tô của Trần Duy T và 01 phù hiệu số 065ĐK/2023 của xe ô tô 49H-028.30, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã chuyển đến Phòng C Công an tỉnh L để xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chở hàng quá tải trọng. Do đó, bị cáo T có trách nhiệm liên hệ với Phòng C Công an tỉnh L để xử lý theo quy định của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Trần Duy T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại (cháu N1) số tiền 200.000.000 đồng; bồi thường cho chị Bùi Thị L1 số tiền 30.000.000 đồng. Đại diện Công ty TNHH V đã hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Nay đại diện gia đình bị hại là anh Lưu Văn Đ và chị Bùi Thị L1 không yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố, bị cáo Trần Duy T phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Trần Duy T 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Duy T cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trả lại cho chị Bùi Thị L1 01 giấy phép lái xe mô tô (đã trả).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Trần Duy T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Quảng |
Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 119/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA
