TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/HS-ST
Ngày: 31/7/2024
-------------------------
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hải
Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hoàng Thanh Tâm
2/ Ông Đinh Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lanh Linh
- Đại diện VKSND thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 31/7/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/TLST-HS ngày 29/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/QĐXXST-HS ngày 08/07/2024 đối với bị cáo:
ĐẶNG THỊ T, sinh năm: 1991, tại Đồng Nai; HKTT: Khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: Số D, đường H, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Kim L, sinh năm: 1952; Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1958; Chồng: Lê Trần H, sinh năm: 1987 (đã ly hôn), con: 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 01/12/2023, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X khởi tố về tội “Tham ô tài sản".
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam để điều tra trong vụ án khác từ ngày 12/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện X (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Công ty TNHH A
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị T1 - Kế toán (Có mặt)
Địa chỉ: E Hồ T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền ngày 22/09/2023)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hợp tác xã T6
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1983.(Vắng mặt)
- Bà Vương Thị D1, sinh năm: 1990 (Vắng mặt)
- Bà Trần Thị Thu T3, sinh năm: 1998 (Có mặt)
Đại diện theo ủy quyền: Ông Thái Bình T2 - Kiểm soát viên HTX (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp G, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền ngày 29/08/2023)
Địa chỉ: E, N, phường A, quận H, tp ..
Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Khu phố B, phường X, tp ., tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2019, Đặng Thị T xin vào làm việc tại Hợp tác xã T6, địa chỉ tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, do bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983, trú tại E, N, phường A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh, làm Chủ tịch Hội đồng quản trị. Khi vào làm việc từ năm 2019 cho đến đầu năm 2022 thì chưa ký hợp đồng lao động. Đến ngày 02/01/2022, hai bên ký hợp đồng lao động số 02/HĐLĐ/2022, công việc được giao là nhân viên kế toán cho hợp tác xã T6. Ngày 18/5/2022, thì T bị Hợp tác xã T6 cho thôi việc theo quyết định buộc thôi việc số 12-QĐ/HTX, cùng thời gian này, Hợp tác xã T6 đã tuyển dụng bà Vương Thị D1, sinh năm 1990, trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai vào làm kế toán thay cho vị trí của T. Sau khi bị cho thôi việc, T biết được tài khoản và mật khẩu của phần mềm easyinvoice.com.vn (là phần mềm Hợp tác xã sử dụng để tạo hóa đơn điện tử) nên đã lấy hóa đơn điện tử và lợi dụng danh nghĩa là nhân viên kế toán của Hợp tác xã T6 để liên lạc với chị Trần Thị Thu T3, sinh năm 1998, trú tại khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, là kế toán của Công ty TNHH A, địa chỉ tại ấp C, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và nhiều lần chuyển hóa đơn điện tử bằng phần mềm Zalo để yêu cầu thanh toán công nợ cho Hợp tác xã T6. Đến tháng 12/2022 do chị D1 đã đổi tên đăng nhập và mật khẩu phần mềm easyinvoice.com.vn của Hợp tác xã Tấn T5 nên T không lấy hóa đơn điện tử được nữa. Do vậy, T đã chủ động tạo một tài khoản Zalo mới có tên Thu T3 và liên lạc với chị D1, thông qua tài khoản Zalo này T đã xin chị D1 gắn địa chỉ email có tên thuthao.mc22@gmail.comphần xuất hóa đơn của Hợp tác xã T6. Từ đây, T có được hóa đơn điện tử mà Hợp tác xã T6 xuất cho công ty TNHH A từ tháng 12/2022 đến tháng 6/2023. Thương tiếp tục gửi các hóa đơn này cho chị T3 là kế toán của công ty A và nhận tiền chuyển khoản từ chị T1 vào tài khoản cá nhân của T như trước đây. Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 6/2023 chị T1 là người trực tiếp chuyển khoản từ tài khoản cá nhân của chị T1 để thanh toán các hóa đơn vào tài khoản cá nhân của T, chỉ có 01 tháng là chị T1 chuyển khoản vào tài khoản của hợp tác xã Tấn T5 và chị T1 có thông báo cho T biết việc này.
Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 6/2023, bằng thủ đoạn như trên, T đã nhận của công ty TNHH A, tổng số tiền là 141.400.000 đồng do chị Lê Thị T1 – là kế toán chuyển khoản từ tài khoản cá nhân của chị T1 tại ngân hàng TMCP A (A) số tài khoản 18014877 tên L1 chuyển vào tài khoản cá nhân của T tại ngân hàng TMCP S (S1) số tài khoản 050116187734 tên DANG THI THUONG. Đến tháng 8/2023, Hợp tác xã T6 đối chiếu công nợ và liên hệ với Công ty TNHH A thì phát hiện đã bị Thương chiếm đoạt số tiền 141.400.000 đồng nên làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L.
Tại bản cáo trạng số: 103/CT-VKS-HS ngày 24/05/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Đặng Thị Thương về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 174 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đặng Thị T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH A không yêu cầu bị cáo Đặng Thị T phải bồi thường số tiền 141.400.000 đồng đã chiếm đoạt nên không đặt ra xem xét.
* Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo đã ăn năn, hối cãi; xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về chăm sóc con nhỏ và làm một người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện:
Năm 2019, Đặng Thị T xin vào làm việc tại Hợp tác xã T6, địa chỉ tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, đến ngày 02/01/2022, hai bên ký hợp đồng lao động số 02/HĐLĐ/2022, công việc được giao là nhân viên kế toán cho hợp tác xã T6. Trong quá trình làm việc thì ngày 18/5/2022, T bị Hợp tác xã T6 cho thôi việc theo quyết định số 12-QĐ/HTX. Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 6/2023, mặc dù T đã bị Hợp tác xã Tấn T5 cho thôi việc nhưng vẫn lợi dụng danh nghĩa là nhân viên kế toán của Hợp tác xã T6 liên lạc với Công ty TNHH A để nhiều lần gửi hóa đơn điện tử, yêu cầu thanh toán công nợ và đã chiếm đoạt số tiền 141.400.000 đồng (một trăm bốn mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng) của Công ty TNHH A. Sau khi T bị Hợp tác xã Tấn T5 cho thôi việc nhưng T vẫn lấy danh nghĩa là kế toán của Hợp tác xã T6 để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH A, đây là tình tiết định khung theo điểm đ, khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Như vậy, đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Thị T đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo là công dân có đủ nhận thức và năng lực, do không muốn lao động mà vẫn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách nói dối, rằng minh vẫn còn là kế toán Hợp tác xã T6 khiển Công ty A tưởng là thật nên đã tự nguyện chuyển cho bị cáo nhiều lần với tổng số tiền là 141.400.000đ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo nhiều lần yêu cầu bị hại chuyển tiền, mỗi lần đều trên 2.000.000đ nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo còn đang bị khởi tố về hành vi “Tham ô tài sản” trong một vụ án khác.
Tuy nhiên, xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Đặng Thị T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ điểm c, đ khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2023.
* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Hợp tác xã T6, bà T3) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà H1, bà D1) vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hải |
Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 119/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 03 năm 06 tháng tù
