Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 119/2024/HSST

Ngày 25 – 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạnh Xuân Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Liên và ông Nguyễn Xuân Tung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Huy Hoàng – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/HSST ngày 06 tháng 8 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 120/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với:

* Các bị cáo:

1- Nguyễn Đức M, sinh năm 1987 (tên gọi khác: Không); nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1956; vợ: Bùi Thị P, sinh năm 1999, con: 01 con sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 09/10/2023 UBND phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”, hình thức: Phạt tiền, đã chấp hành xong ngày 07/11/2023; Nhân thân:

  • Ngày 19/4/2010 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm.
  • Ngày 15/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên (nay là thị xã D), tỉnh Hà Nam xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm.
  • Ngày 19/12/2013 UBND huyện D (nay là thị xã D), tỉnh Hà Nam ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 19/12/2015.

Tạm giữ: từ ngày 14/12/2023 đến ngày 23/12/2023 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

2- Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968, (tên gọi khác: Không), nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn M2 (đã chết) và bà Đặng Thị H (đã chết); vợ: Khổng Thị N, sinh năm 1968, con:

1

02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/9/2014 Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 25/2/2017.Tạm giữ: từ ngày 14/12/2023 đến ngày 23/12/2023 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

3- Bùi Thị P, sinh năm 1999 (tên gọi khác: Không), nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Công C (đã chết) và bà Bùi Thị M3, sinh năm 1963; chồng: Nguyễn Đức M, sinh năm 1989, con: 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Ngày 09/10/2023 Ủy ban nhân dân phường H xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức "phạt tiền" về hành vi "Trộm cắp tài sản", đã chấp hành ngày 07/11/2023; nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/6/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

4- Lê Thanh H1, sinh năm 1982 (tên gọi khác: H2) nơi cư trú: số A, đường T, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Thanh H3, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị Bích H4, sinh năm 1960; vợ: Phạm Thị N1, sinh năm 1987, con: 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; có mặt; về nhân thân:

  • Ngày 11/6/1998 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 04 năm tù về tội "Giết người".
  • Ngày 21/5/2013 Công an phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức "Cảnh cáo" về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".
  • Ngày 03/1/2014 Công an thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức "Cảnh cáo" về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".
  • Ngày 25/4/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 02 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", ra trại ngày 17/11/2020 (đã được xóa án tích).

Tạm giữ: từ ngày 14/12/2023 đến ngày 23/12/2023 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

5- Lâm Thị Thu L, sinh năm 1990 (tên gọi khác: Không) nơi cư trú: Thôn M, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lâm Văn B và bà Nguyễn Thị H5, chồng: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân; về nhân thân: Ngày 15/3/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên (nay là thị xã D) xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", ra trại ngày 07/2/2018 (đã được xóa án tích). Tạm giữ: từ ngày 14/12/2023 đến ngày 23/12/2023 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

2

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Thanh T, sinh năm 1984, nơi ĐKHKTT: Số A, đường T, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định, chỗ ở: Số C đường H, phường B, quận L, thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 13/12/2023, Nguyễn Văn Đ một mình đi đến nhà Nguyễn Đức M ở tổ dân phố V, phường B, thị xã D, mục đích rủ M mua ma túy ngựa về nhà M sử dụng. Khi đến nhà M, Đ gặp M và vợ là Bùi Thị P đang ở nhà nên Đ đi vào ngồi nói chuyện với M. Khoảng 15 phút sau Đ nói: “Làm mấy trăm ngựa về chơi”, đồng thời lấy trong người ra số tiền 500.000 đồng đưa cho M, hiểu ý Đ đưa tiền cho mình để đi mua ma túy ngựa về sử dụng nên M cầm số tiền mà Đ đưa rồi một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, BKS: 31-208K2, sơn màu nâu (là xe của M) đi đến đoạn đường gần cổng chào giữa tỉnh Hà Nam và thành phố Hà Nội gặp một người đàn ông tên Q (M không xác định được tên thật, tuổi, địa chỉ cụ thể của Q). Tại đây M sử dụng số tiền mà Đ đưa mua được 06 viên ma túy ngựa được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, loại túi có kẹp zip. Sau khi mua được ma tuý, M điều khiển xe về nhà. Khi về đến nhà, M để 06 viên ma túy ngựa vừa mua ra bàn uống nước, rồi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: Bình cóong bằng vỏ chai nước cocacola, bật lửa, giấy bạc ra để cùng với Đ sử dụng, Mão cho ma túy ngựa vào tờ giấy bạc rồi dùng bật lửa hơ bên ngoài để sử dụng trước, sau đó đưa bộ bình cóong cho Đ sử dụng. Trong khi M và Đ sử dụng ma tuý thì Bùi Thị P nấu cơm, một lúc sau P bê mâm cơm vào nhà để ăn cơm thì thấy M và Đ đang sử dụng ma tuý nên P bảo “Thôi không chơi nữa dọn đi để ăn cơm”, Đ bảo “Em cứ ăn trước đi bọn anh chơi sắp xong rồi”. Sau đó P một mình ngồi cạnh máy tính ăn cơm còn M và Đ thay nhau sử dụng hết số ma tuý còn lại. Sau khi sử dụng xong Đạt M4 cùng P ngồi chơi nói chuyện. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Lê Thanh H1 một mình đi đến nhà Mão lúc này Bùi Thị P ra mở cửa cổng cho H1 vào. Khi vào nhà M4, H1 hỏi M4 “Con Mít có ở đây không”, ý H1 hỏi M4 là Lâm Thị Thu L tên thường gọi là “Mít” có ở nhà M4 không thì M4 trả lời “Không, ông tìm nó thì lên nhà nó mà tìm đến hỏi tôi làm gì”, thấy vậy H1 điều khiển xe đi ra khỏi nhà M4. Một lúc sau H1 và Lâm Thị Thu L lần lượt đi đến nhà M4, lúc này Bùi Thị P ra mở cửa cho H1 và L vào ngồi chơi, nói chuyện. Trong lúc ngồi chơi M4 nói: “Anh H1 còn tiền góp thêm làm mấy con ngựa chơi”, hiểu ý M4 là rủ mình góp tiền mua ma túy ngựa để về cùng sử dụng nhưng do không mang theo tiền nên nói: “Anh không còn, em cứ lấy ra đi, tối lên Hà Nội thì anh bắn cho”, M4 hiểu là H1 đã đồng ý góp tiền mua ma túy ngựa về sử dụng nên M4 cầm số tiền 200.000 đồng L góp để trên bàn uống nước đi mua ma túy. Do thiếu tiền mua ma túy nên M4 đi đến 01 quán điện thoại di động ở khu vực cổng trường Trung học phổ thông B Duy Tiên bán chiếc điện thoại của M4 được số tiền 500.000 đồng rồi một mình điều khiển xe mô tô, BKS: BKS: 31-208K2 đi đến khu vực cổng chào giữa tỉnh Hà Nam và thành phố Hà Nội gặp người đàn ông tên Q, là người mà M4 đã mua ma tuý trước đó nên M4 tiếp tục hỏi và mua 500.000 đồng được 06 viên ma túy ngựa. Sau đó M4 mang số ma túy ngựa trên về nhà. Khi về đến nơi thì P ra mở cửa cho M4 vào rồi đóng cửa lại. Lúc này M4 đi vào phòng bỏ số ma túy ngựa vừa mua được lên bàn, P cũng đi vào và lấy bộ bình coóng mà M4, Đ vừa sử dụng

3

trước đó ra để cho cả nhóm sử dụng. Do chiếc bật lửa trước đó M4 và Đ sử dụng đã hết gas nên H1 lấy chiếc bật lửa gas màu đỏ trong bao thuốc lá của mình ra để trên bàn cho cả nhóm dùng vào việc sử dụng ma túy. Lúc này M4 bảo P ngồi vào chạy ngựa cho mọi người sử dụng. P đồng ý ngồi xuống rồi lấy ma túy ngựa mà M4 vừa mua về bỏ vào tờ giấy bạc và bật lửa hơ để sử dụng trước, sau đó P tiếp tục hơ cho M4, Đ, H1 và L thay nhau sử dụng, mỗi người sử dụng được khoảng 5-6 hơi thì gần hết 6 viên ma túy ngựa mà trước đó M4 đã mua. Số ma tuý còn lại trong giấy bạc Đ và L thay nhau hơ cho M4, L, Đ cùng nhau sử dụng hết. Sau khi sử dụng xong, tất cả ngồi chơi, nói chuyện, khoảng 30 phút thì lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện việc các đối tượng sử dụng ma tuý nên đã lập biên bản thu giữ, tạm giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

* Vật chứng, tài sản thu giữ, tạm giữ gồm: T1 tại gầm bếp ăn trong nhà Mão: 01 bộ cóong được làm từ vỏ chai Cocacola bằng nhựa màu trắng, loại chai 300ml, đậy kín bằng nắp nhựa màu đỏ, trên nắp nhựa có 02 lỗ thủng, 01 lỗ thủng đang được cắm 01 ống hút nhựa màu trắng cam, đã qua sử dụng. T1 trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ của Nguyễn Đức M: 01 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng, bên trong có: 01 lọ thủy tinh trong suốt, loại 2ml, trên lọ có in dòng chữ NOVOCAIN màu đỏ (ống nước cất), 01 đoạn keo nến dài 12cm, 01 tờ giấy bạc KT (37x16)cm. Thu trên mặt bàn máy tính cạnh cửa ra vào phòng ngủ của Mão: 01 bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 điện thoại động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng (thu của Nguyễn Văn Đ); 01 điện thoại động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu vàng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng (thu của Lâm Thị Thu L); 01 điện thoại động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng (thu của Lê Thanh H1).

Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ởcủa Nguyễn Đức M tại tổ dân phố V, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam Quá trình khám xét phát hiện thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, BKS: 31-208K2, sơn màu nâu; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, BKS: 90B3–541.50, sơn màu xanh; 01 xe mô tô nhãn hiện Y, loại xe Jupiter, BKS: 30F6–9672, sơn màu đỏ.

Tại Bản kết luận giám định số 879/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: "Tìm thấy chất ma túy methamphetamine trong các mẫu nước tiểu ký hiệu "M01- Mẫu nước tiểu của Nguyễn Đức M"; "M02- Mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn Đ", "M03- Mẫu nước tiểu của Lê Thanh H1"; "M04- Mẫu nước tiểu của Lâm Thị Thu L"; "M05- Mẫu nước tiểu của Bùi Thị P" gửi giám định".

Cáo trạng số 99/CT – VKS ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố các bị cáo Nguyễn Đức M, Nguyễn Văn Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; các bị cáo Lê Thanh H1, Lâm Thị Thu L và Bùi Thị P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn Đ; áp dụng Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Đức M; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lâm Thị

4

Thu L, Bùi Thị P, Lê Thanh H1. Xử phạt Nguyễn Đức M mức án từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù; Nguyễn Văn Đ mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù; các bị cáo Lê Thanh H1, Lâm Thị Thu L mỗi bị cáo mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với các bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Các bị cáo chỉ đề nghị HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất và không tranh luận gì. Riêng bị cáo M đề nghị HĐXX xem xét bị cáo có tham gia quân đội; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt xin được nhận lại tài sản bị thu giữ trong vụ án và không có tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như: Biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng trong vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 11 giờ ngày 13/12/2023, tại nhà của Nguyễn Đức M ở tổ dân phố V, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn Đ đã đưa 500.000 đồng cho M đi mua 06 viên ma túy loại ngựa về cùng sử dụng. Sau khi mua 06 viên Methamphetamine về nhà thì M lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của mình đã có sẵn và cả hai thay nhau sử dụng hết số ma túy mà M đã mua.

Đến khoảng 13 giờ ngày 13/12/2023, Lê Thanh H1 và Lâm Thị Thu L đến nhà M chơi, tại đây thì M rủ H1 góp tiền mua ma túy về để cả nhóm cùng sử dụng ma túy tại nhà M, do H1 không có tiền mặt nên đã bảo M cứ đi mua ma túy đi và lên Hà Nội chuyển khoản sau, L góp 200.000 đồng để sử dụng cho việc mua ma túy. Do không đủ tiền mua ma túy nên M đã cắm chiếc điện thoại của mình và dùng 500.000 đồng mua được 06 viên ma túy loại Methamphetamine về nhà. Khi về đến nhà, Bùi Thị P là người lấy bộ sử dụng ma túy để cả nhóm sử dụng. H1 là người lấy bật lửa gas trong bao thuốc lá của mình bỏ ra bàn để mọi người sử dụng ma túy. P châm lửa sử dụng ma túy trước, sau đó P tiếp tục hơ cho M, Đ, H1 và L thay nhau sử dụng, mỗi người sử dụng được khoảng 5-6 hơi thì Đ, L thay nhau hơ ma túy cho M, L, Đ cùng nhau sử dụng hết số ma túy đã trên.

Hành vi nêu trên của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của Nguyễn Đức M và Nguyễn Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; hành vi của Lâm Thị Thu L, Lê Thanh H1 và Bùi Thị P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2

5

Điều 255 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 99/CT – VKS – DT ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Về nhân thân: Các bị cáo đều là người đã từng bị kết án hoặc bị cơ quan nhà nước xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật nên là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Trong vụ án này các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Đức M, Lê Thanh H1, Lâm Thị Thu L, Bùi Thị P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu với quy định của pháp luật, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Đức M là người đã từng tham gia quân đội và đã được các Bản án trước áp dụng là tình tiết giảm nhẹ TNHS nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về vai trò của các bị cáo:

Trong vụ án này, Nguyễn Đức M là người trực tiếp hai lần đi mua ma túy về cho các đối tượng sử dụng tại nhà của mình nên giữ vai trò thứ nhất, Nguyễn Văn Đ khơi mào và bỏ tiền để Nguyễn Đức M đi mua ma túy về sử dụng lần đầu, cũng như cả hai lần đều tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên giữ vai trò thứ hai. Lê Thanh H1, Lâm Thị Thu L khi được M rủ đã đồng ý mua ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy, Bùi Thị P có các hành vi giúp sức tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tích cực nên có vai trò ngang nhau và giữ vai trò thứ ba trong vụ án.

[5] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ nhận định trên, xét thấy các bị cáo là người có nhân thân xấu, nghiện ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên xét cần thiết cho cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Về các hành vi khác trong vụ án: Đối với người đàn ông tên Q đã bán ma túy cho Nguyễn Đức M, do chỉ có lời khai của M, ngoài ra không có tài liệu gì khác nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xử lý đối với người đàn ông này là có cơ sở.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bộ cóong được làm từ vỏ chai Cocacola bằng nhựa màu trắng, loại chai 300ml, đậy kín bằng nắp nhựa màu đỏ, trên nắp nhựa có 02 lỗ thủng, 01 lỗ thủng đang được cắm 01 ống hút nhựa màu trắng cam, đã qua sử dụng; 01 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng, bên trong có: 01 lọ thủy tinh trong suốt, trên lọ có in dòng chữ NOVOCAIN, 01 đoạn keo nến dài 12cm, 01 tờ giấy bạc; 01 bật lửa gas màu

6

đỏ. Qua đấu tranh xác định đây là mẫu vật sau giám định, thuộc vật cấm lưu hành và là công cụ để các bị cáo sử dụng ma túy, hiện không còn giá trị sử dụng, nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với: 01 điện thoại động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng (thu của Nguyễn Văn Đ); 01 điện thoại động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu vàng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng (thu của Lâm Thị Thu L); 01 điện thoại động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng (thu của Lê Thanh H1): Qua trình đấu tranh, HĐXX xác định đây là tài sản của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, BKS: 31-208K2, sơn màu nâu thu giữ của bị cáo Nguyễn Đức M. Quá trình đấu tranh, xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức M đã sử dụng làm phương tiện để đi mua 02 lần ma túy về sử dụng, nên HĐXX cần tịch thu xung ngân sách nhà nước.

Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, BKS: 90B3–541.50, sơn màu xanh thu giữ của bị cáo Lâm Thị Thu L. Quá trình đấu tranh xác định đây là tài sản hợp pháp của Lâm thị Thu L1 không sử dụng vào việc mua bán ma túy nên cần trả lại cho bị cáo L1.

Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiện Y, loại xe Jupiter, BKS: 30F6–9672, sơn màu đỏ thu giữ của bị cáo Lê Thanh H1: Quá trình đấu tranh, xác định đây là tài sản của chị Lê Thị Thanh T (em gái bị cáo H1) cho mượn để làm phương tiện đi lại. Cơ quan CSĐT Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam đã tiến hành tra cứu xác minh xe mô tô trên không là tang vật của vụ án nào, nên HĐXX cần trả lại chiếc xe trên cho chị Lê Thị Thanh T là phù hợp.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự:

Áp dụng: Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đức M và Nguyễn Văn Đ. Áp dụng riêng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức M.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Lê Thanh H1, Lâm Thị Thu L và Bùi Thị P.

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Đức M, Nguyễn Văn Đ, Lê Thanh H1 (tên gọi khác: H2), Lâm Thị Thu L và Bùi Thị P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

+ Bị cáo Nguyễn Đức M 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2023.

7

+ Bị cáo Nguyễn Văn Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2023.

+ Lê Thanh H1 (tên gọi khác: H2) 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2023.

+ Bị Cáo Lâm Thị Thu L 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2023.

+ Bị cáo Bùi Thị P 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2024.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bộ cóong được làm từ vỏ chai Cocacola trên nắp nhựa có 02 lỗ thủng, 01 lỗ thủng đang được cắm 01 ống hút nhựa màu trắng cam; 01 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng, bên trong có: 01 lọ thủy tinh trong suốt, trên lọ có in dòng chữ NOVOCAIN, 01 đoạn keo nến, 01 tờ giấy bạc; 01 bật lửa gas màu đỏ;
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, BKS: 31-208K2, sơn màu nâu;
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh;
  • Trả lại cho bị cáo Lê Thanh H1 01 điện thoại động nhãn hiệu Samsung.
  • Trả lại cho bị cáo Lâm Thị Thu L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, BKS: 90B3-541.50 và 01 điện thoại động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu vàng.
  • Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Lê thị Thanh T2 01 xe mô tô nhãn hiện Yamaha, loại xe Jupiter, BKS: 30F6–9672, sơn màu đỏ.

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày 28/8/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hôi: Buộc các bị cáo Nguyễn Đức M, Nguyễn Văn Đ, Lê Thanh H1, Lâm Thị Thu L, Bùi Thị P, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tx Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mạnh Xuân Hải

8

  • - Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 119/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN ĐỨC M CÙNG ĐỒNG BỌN PHẠM TỘI "tỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger