|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 119/2024/HS-ST Ngày: 13/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu.
Ông Đặng Quang Hoạch.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/HSST-QĐ ngày 15/4/2024, Thông báo dời lịch ngày 07/5/2024, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Lê Ngọc S, sinh năm: 1996 tại tỉnh B.
Hộ khẩu thường trú: Ấp 3, xã N, huyện T, tỉnh Đ;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 8/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Lê Văn M, sinh năm: 1958 (chết) và bà Phạm Thị M, sinh năm: 1972; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị giam giữ từ ngày 08/12/2022 tại Trại tạm giam B5 - Công an tỉnh Đồng Nai.
-
Họ và tên: Lê Bảo Q, sinh năm: 1979 tại tỉnh B.
Hộ khẩu thường trú: Đường 18, ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đ;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Lê T (chết) và bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1953; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 1997, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Năm 1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/4/2002.
Bị giam giữ từ ngày 08/12/2022 tại Trại tạm giam B5 - Công an tỉnh Đồng Nai.
-
Họ và tên: Nguyễn Nhân Q1, sinh năm: 1993 tại tỉnh Đ.
Hộ khẩu thường trú: Số 560, ấp T, xã, huyện T, tỉnh Đ;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 8/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Tiến C, sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1964; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tháng 12/2020, chấp hành xong tháng 3/2022.
Bị giam giữ từ ngày 08/12/2022 tại Trại tạm giam B5 - Công an tỉnh Đồng Nai.
-
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Ng, sinh năm: 1983 tại tỉnh B.
Hộ khẩu thường trú: Ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 02/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Võ Thị D (đã chết); bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị giam giữ từ ngày 08/12/2022 đến ngày 18/12/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ng: Bà Nguyễn Thúy L, sinh năm: 1962, địa chỉ: Tổ 6, khu phố 4, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đ; ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1968, địa chỉ: Ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đ; ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1970; địa chỉ: Xã B, huyện P, tỉnh B; ông Nguyễn Văn H; sinh năm: 1973, địa chỉ: Thị trấn L, huyện L, tỉnh B; bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1976, địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh T – là anh chị ruột của bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Ng: Luật sư Nguyễn Văn N– VPLS N thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai.
(các bị cáo, bà Nguyễn Thúy L, ông Nguyễn Văn H, người bào chữa có mặt; các đương sự khác vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 45 phút, ngày 08/12/2022 Công an xã Quảng Tiến kiểm tra hành chính căn nhà số 1296, đường 17, tổ 5, ấp Quảng Biên, xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai do Nguyễn Ngọc Ng làm chủ phát hiện có 07 đối tượng gồm: Nguyễn Ngọc Ng, Lê Bảo Q, Lê Ngọc S, Nguyễn Nhân Q1, Tống Phước Quang H, Trần Văn D và Lê Văn N.
Thời điểm kiểm tra Nguyễn Ngọc Ng đang nằm trong phòng ngủ, tại khu vực nhà bếp Tống Phước Quang H và Lê Văn N đang ngồi nói chuyện ở góc tường bên trái, Trần Văn D đang nằm ngủ dưới nền nhà; phía góc tường bên phải có Lê Ngọc S, Lê Bảo Q và Nguyễn Nhân Q1 đang ngồi sử dụng trái phép chất ma túy, gần vị trí Q, S và Q1 đang ngồi có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm chai nhựa, ống hút nhựa và nỏ thủy tinh), bên trong nỏ thủy tinh có bám dính chất rắn màu vàng đục. S khai nhận là ma túy đá của S mua về, đem đến nhà của Ng, sau đó cho Q và Q1 cùng sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ vật chứng.
Qua xét nghiệm (test nhanh) đối với Lê Bảo Q, Lê Ngọc S, Nguyễn Nhân Q1, Tống Phước Quang H, Lê Văn N đều có kết quả dương tính với chất ma túy; riêng Nguyễn Ngọc Ng và Trần Văn D cho kết quả âm tính với chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 nỏ thủy tinh bên trong nỏ có bám chất rắn màu vàng đục (phễu nỏ thủy tinh chứa chất rắn màu vàng đục bị vỡ), tất cả được niêm phong vào 01 phong bì giấy ngoài phong bì có chữ ký của Lê Ngọc S và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai; 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 2671/KL-KTHS ngày 14/12/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận:
“Mẫu chất màu vàng bám dính trong nỏ thủy tinh bị vỡ được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0834 gam, loại Methamphetamine”
Ngày 16/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Ngọc S, Lê Bảo Q và Nguyễn Nhân Q1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc Ng về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” quá trình điều tra xác định được hành vi phạm tội của các bị can như sau:
Lê Ngọc S, Lê Bảo Q và Nguyễn Nhân Q1 là bạn bè chơi chung và đều nghiện ma túy, thường tụ tập tại nhà Nguyễn Ngọc Ng, địa chỉ: Số 1296, đường số 17, tổ 5, ấp Quảng Biên, xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom để ăn nhậu và sử dụng trái phép chất ma túy.
Vào khoảng 18 giờ ngày 08/12/2022, trên đường đi xin việc làm về đến đoạn đường gần khu vực trường mẫu giáo Thanh Bình ở khu công nghiệp Bàu Xéo, huyện Trảng Bom thì S mua 01 gói ma túy đá với giá 180.000 đồng (một trăm tám mươi ngàn đồng) của Mun (không rõ nhân thân, lai lịch), ma túy mua được bỏ vào túi quần rồi đi đến nhà Ng, mục đích để sử dụng. Khi đi vào nhà thì thấy Ng trong phòng ngủ đang xem tivi, còn phía sau nhà bếp có Lê Bảo Q, Nguyễn Nhân Q1, Lê Văn N, Tống Phước Quang H và Trần Văn D đang ngồi ăn nhậu, S hỏi có ai sử dụng ma túy không thì Q1 và Q đồng ý sử dụng. Sau đó, S đưa gói ma túy đá cho Q1 câm, Q1 đi ra đường (chỗ bụi cây) trước nhà Ng lấy 01 nỏ thủy tinh do Q1 cất giấu từ trước, đem vào nhà bếp, Q1 lấy 01 chai nhựa rồi đục 02 lỗ ở trên nắp nhựa, đục xong Q1 nhét nỏ thủy tinh và ống hút nhựa màu trắng vào 02 lỗ làm thành 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, Q1 lấy gói ma túy S đưa và đổ hết vào nỏ thủy tinh rồi cùng S, Q sử dụng ma túy phía bên phải nhà bếp, còn H và N ngồi nói chuyện ở góc tường bên trái nhà bếp, D nằm ngủ dưới nền nhà (sát vị trí N ngồi). Khi S, Q1 và Q mỗi người sử dụng được 01 hơi ma túy thì lực lượng Công an vào kiểm tra bắt quả tang. Ngoài ra, trước đó S, Q1 và Q đã cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Ng được 03 (ba) lần, cụ thể:
Khoảng 02 tuần trước ngày bị bắt S, Q, Q1 đến nhà Ng chơi, khi đi xuống nhà bếp ngồi nói chuyện thì Q1 thấy có sẵn 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại nhà bếp, bên trong nỏ thủy tinh có sẵn một ít ma túy chưa sử dụng hết (ma túy còn dư của ai mua sử dụng trước đó thì cả ba không biết) nên Q1 lấy ra rồi cùng sử dụng với S và Q, trong lúc sử dụng ma túy thì Ng ngồi xem tivi ở trong phòng ngủ nên không biết, khi cả ba sử dụng ma túy xong, đang ngồi nói chuyện thì Ng từ phòng ngủ đi xuống thấy cả nhóm đang ngồi (ở giữa có bộ dụng cụ sử dụng ma túy) thì Ng nhắc nhở và nói không được sử dụng ma túy, sau đó cả nhóm bỏ đi về.
Khoảng 01 tuần trước ngày bị bắt, Q1 cũng đến nhà Ng gặp Q và S, Q1 thấy có sẵn 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại nhà bếp, bên trong nỏ thủy tinh có sẵn một ít ma túy chưa sử dụng hết (ma túy còn dư của ai mua sử dụng trước đó thì cả ba không biết), trong lúc sử dụng thì Ng ngồi xem tivi trong phòng ngủ nên không biết, khi cả ba sử dụng ma túy xong, đang ngồi nói chuyện thì Ng từ phòng ngủ đi xuống, khi thấy cả ba đang ngồi sử dụng ma túy (ở giữa có bộ dụng cụ sử dụng ma túy) thì Ng nhắc nhở và nói không được sử dụng ma túy, rồi Ng tiếp tục bỏ đi lên phòng ngủ nằm, sau đó cả nhóm bỏ đi về, còn Q1 lấy nỏ thủy tinh cất giấu trong bụi cây trước nhà Ng, mục đích làm dụng cụ để tiếp tục sử dụng ma túy những lần sau.
Khoảng 21 giờ ngày 07/12/2022, Q đem theo 01 (một) gói ma túy đến nhà Ng, lúc này Ng ngồi xem tivi trong phòng ngủ, khi thấy Q1 và S đang ngồi nói chuyện dưới nhà bếp thì Q rủ cả hai cùng sử dụng ma túy, Q1 lấy nỏ thủy tinh cất giấu phía trước nhà và lấy chai nhựa, ống hút chế tạo thành 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Trong lúc cả nhóm đang ngồi sử dụng ma túy thì Ng từ trên phòng ngủ đi xuống nhà bếp thấy nên bực tức nói “mấy thằng bây cứ chơi hoài Công an vô bắt bây giờ”, nhưng Q lại nói “ai làm người đó chịu, mày đừng có lo” rồi Ng bỏ đi lên phòng nằm xem tivi để mặc cả nhóm tiếp tục ngồi sử dụng ma túy với nhau, sau khi sử dụng xong thì cả nhóm đi về, còn nỏ thủy tinh Q1 lấy ra khỏi nắp nhựa và đem cất giấu ở bụi cây trước nhà Ng.
Bản thân Ng thấy và biết việc S, Q1 và Q ngồi sử dụng ma túy tại phòng bếp 03 lần, trong đó có 02 lần các đối tượng đang sử dụng ma xong, còn 01 lần các đối tượng đang sử dụng ma túy thì Ng nhắc nhở nhưng do nể nang nên Ng vẫn để mặc cho các đối tượng ngồi tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của mình và đi vào phòng ngủ nằm coi ti vi, còn ngày 08/12/2022 việc Q, Q1 và S ngồi sử dụng ma túy tại phòng bếp thì Ng không biết.
Tại bản Cáo trạng số 205/CT-VKS-TB ngày 18/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố các bị cáo Lê Ngọc S, Lê Bảo Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Nhân Q1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Ngọc Ng về tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự.
Xử lý vật chứng:
01 phong bì niêm phong sau giám định số 2671/KL-KTHS ngày 14/12/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai; 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa là dụng cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với Mun là người bán ma túy cho S và Phương là người cho Q ma túy, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với Lê Văn N, Tống Phước Quang H, Trần Văn D không tham gia sử dụng ma túy cùng S, Q và Q1 vào ngày 08/12/2022, việc các đối tượng tổ chức sử dụng ma túy tại nhà Ng những lần trước thì Ngọc, Huy và Dũng không biết nên chưa đủ căn cứ xử lý hình sự. Tuy nhiên Lê Văn N và Tống Phước Quang H có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, đã vi phạm vào khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Công an xã Quảng Tiến đã ra Quyết định xử phạt hành hành chính theo quy định.
Tại Công văn số 15/CV/VKS-TB ngày 29/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom có văn bản giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số 205/CT-VKS-TB ngày 18/8/2023.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Lê Ngọc S, Lê Bảo Q, Nguyễn Nhân Q1 mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Ngọc Ng mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Người bào chữa cho bị cáo Ng trình bày:
Về tội danh của bị cáo Ng thì Luật sư không có ý kiến, về hình phạt thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì bị cáo là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và bị cáo cũng chỉ học hết lớp 2 nên không nhận thức hết hành vi vi phạm pháp luật của mình, các bị cáo còn đe dọa bị cáo Ng khi bị cáo nhắc nhở nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng thêm điểm k khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; mặt khác, bị cáo Ng có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, cha mẹ chết sớm, bị cáo sống một mình, bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo (ung thư vòm họng đã di căn).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ng – Bà Nguyễn Thúy L trình bày:
Rất mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ng để bị cáo có thêm thời gian ở ngoài đề điều trị bệnh ung thư hiện nay đã di căn và nhiều căn bệnh khác.
- Các bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và các bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Vào ngày 08/12/2022, Lê Ngọc S mang theo 01 gói ma túy đến nhà của Nguyễn Ngọc Ng ở ấp Quảng Biên, xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì gặp và rủ Lê Bảo Q, Nguyễn Nhân Q1 sử dụng ma túy, Q1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu trước nhà Ng và lấy ma túy cho vào nỏ thủy tinh rồi S, Q, Q1 cùng sử dụng ma túy. Trước đó, vào ngày 07/12/2022, Q mang theo 01 gói ma túy đến nhà Ng rủ S và Q1 sử dụng ma túy, Q1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu trước nhà Ng và lấy ma túy cho vào nỏ thủy tinh rồi Q, S, Q1 cùng sử dụng ma túy. Nguyễn Ngọc Ng có hành vi chứa chấp Lê Ngọc S, Lê Bảo Q và Nguyễn Nhân Q1 sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 07/12/2022 tại nhà của Ng ở ấp Quảng Biên, xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Ngọc S, Lê Bảo Q đã phạm tội “Tổ chức trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, Nguyễn Nhân Q1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Ngọc Ng đã phạm vào tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, trực tiếp là hoạt động tổ chức sử dụng và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử phạt các bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo Lê Ngọc S, Lê Bảo Q và Nguyễn Nhân Q1 là đồng phạm nhưng ở mức độ giản đơn, không có sự phân công bàn bạc từ trước.
Xét nhân thân: Bị cáo Lê Ngọc S và bị cáo Nguyễn Ngọc Ng có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Lê Bảo Q đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng nay lại tiếp tục phạm tội; bị cáo Q1 đã đi cai nghiện bắt buộc nay lại tiếp tục tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Như vậy, bị cáo S có nhân thân tốt, chỉ tổ chức sử dụng ma túy 01 lần, bị cáo Q chỉ tổ chức sử dụng ma túy 01 lần nhưng có nhân thân xấu; bị cáo Q1 tổ chức sử dụng ma túy 02 lần, nên mức án của bị cáo S thấp hơn bị cáo Q1 và Q.
Riêng đối với bị cáo Ng khi phạm tội là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, các bị cáo khác lợi dụng việc bị cáo Ng sống một mình và hạn chế năng lực hành vi để tới sử dụng ma túy trái phép mặc dù đã được bị cáo Ng nhắc nhở các bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng, bản thân bị cáo Ng cũng không sử dụng ma túy, không thu lợi từ việc các bị cáo khác tới sử dụng ma túy; đồng thời bị cáo có hoàn cảnh khó khăn (không có công việc ổn định, không có thu nhập, sống phụ thuộc vào gia đình, thường xuyên đau ốm, bệnh hen suyễn mãn tính và hiện nay bị cáo đang điều trị ung thư tuyến giáp) nên cần áp dụng thêm điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt là cũng đủ răn đe và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo có thêm thời gian điều trị bệnh.
[4] Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong sau giám định số 2671/KL-KTHS ngày 14/12/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai; 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa là dụng cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.
[5] Về vấn đề khác:
Đối với Mun là người bán ma túy cho S và Phương là người cho Q ma túy, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với Lê Văn N, Tống Phước Quang H, Trần Văn D không tham gia sử dụng ma túy cùng S, Q và Q1 vào ngày 08/12/2022, việc các đối tượng tổ chức sử dụng ma túy tại nhà Ng những lần trước thì N, H và D không biết nên chưa đủ căn cứ xử lý hình sự. Tuy nhiên Lê Văn N và Tống Phước Quang H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Nhận định của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Trình bày của người bào chữa cho bị cáo Ng có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S, Lê Bảo Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lê Ngọc S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2022.
- Xử phạt bị cáo Lê Bảo Q 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2022.
Căn cứ theo điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhân Q1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhân Q1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2022.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256, điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Ng phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Ng 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành hình phạt tù, nhưng được trừ đi thời gian giam giữ từ ngày 08/12/2022 đến ngày 18/12/2022.
-
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong sau giám định số 2671/KL-KTHS ngày 14/12/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai; 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa;
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc Ng có mặt tại phiên tòa, người bào chữa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc Ng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hương |
8
9
Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội phạm ma túy
- Số bản án: 119/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về Tội phạm ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo S và đp bị xét xử về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo khoản 2 Điều 255 BLHS
