Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 119/2024/HSST

Ngày: 11-6-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

 Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.

 Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Mai.

2. Bà Châu Thị Lệ - Nguyên cán bộ giáo dục.

 Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Diệp – Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

 Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh – Số 416/2 đường Dương Quảng Hàm, Phường 5, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 104/2024/HSST ngày 26/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS ngày 28/5/2024, đối với bị cáo:

Ngọ Hồng P;

 sinh ngày 20/11/2006, tại tỉnh O; Thường trú: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh O; Nơi cư trú: Số X2 đường số Y2, phường Z2, Quận 02, Tp. Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngọ Văn H và bà Vũ Thị C; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

 Bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến ngày 13/9/2023, bị cáo tại ngoại (có mặt).

-Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Ngọ Văn H (có mặt).

Địa chỉ: Số X2 đường số Y2, phường Z2, Quận O2, Tp. Hồ Chí Minh.

-Người bào chữa của bị cáo: Ông Nguyễn Xuân Ngh - thuộc Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh (có mặt).

Địa chỉ: Số X3 đường Y3, Phường Z3, quận 03, Tp. Hồ Chí Minh.

-Bị hại: Ông Phạm Anh C (vắng mặt).

Địa chỉ: Số X4 đường số Y4, Phường Z4, quận G, Tp. Hồ Chí Minh.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngọ Văn H (có mặt).

Địa chỉ: Số X2 đường số Y2, phường Z2, Quận O2, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 ngày 10/3/2023, Ngọ Hồng P (sinh ngày 20 tháng 11 năm 2006) sử dụng xe gắn máy Honda hiệu Air Blade biển số 36B5–601.62 đi trên các tuyến đường thuộc địa bàn quận G, Tp. Hồ Chí Minh tìm người sử dụng điện thoại di động sơ hở để cướp giật bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 8 giờ 23 phút cùng ngày, khi đến trước nhà số X5 Y5, Phường Z4, quận G, Tp. Hồ Chí Minh thì phát hiện anh Phạm Anh C đang dừng xe bên đường, trên tay đang sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, Ngọ Hồng P liền quay xe lại, điều khiển xe chạy cùng chiều rồi áp sát phía bên trái xe của anh Phạm Anh C, dùng tay phải giật chiếc điện thoại Iphone 12 Pro của anh Phạm Anh C rồi tẩu thoát.

Sau khi cướp giật điện thoại xong, Ngọ Hồng P chạy xe đến trường rồi lên lớp học. Do lo sợ, Ngọ Hồng P đã đưa chiếc điện thoại vừa cướp giật được cho bạn học cùng lớp tên là Lương Tiểu B (Sinh ngày 06 tháng 11 năm 2006; địa chỉ: số 18/115 Bis, Tổ 10, đường Đông Bắc, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh) nói là điện thoại của chú và nhờ B giữ giúp rồi Ngọ Hồng P cất điện thoại vào cặp của Lương Tiểu B.

Đến 16 giờ 20 cùng ngày, Ngọ Hồng P bị Công an Phường Z4, quận G đưa về trụ sở làm việc, tại đây Ngọ Hồng P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên

Tại Cơ quan điều tra, Công an quận G, Tp. Hồ Chí Minh, Ngọ Hồng P đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh. Tại bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận G kết luận: giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, vào thời điểm bị cướp giật trị giá là 10.083.333 đồng (Mười triệu không tăm tám ba ngàn ba trăm ba mươi ba đông).

- 01 (một) chiếc xe mô tô Honda hiệu Air Blade, biển số: 36B5 – 601.62.

Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKS-GV ngày 22/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận G, Tp. Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Ngọ Hồng P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2, Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận G, Tp. Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có đơn bãi nại, khi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi, đề nghị xử phạt bị cáo Ngọ Hồng P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Đề nghị miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Đề nghị xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh; 01 (một) chiếc xe mô tô Honda hiệu Air Blade, biển số: 36B5 – 601.62. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận không xét lại.

Người bào chữa của bị cáo Ngọ Hồng P trình bày ý kiến: Thống nhất về tội danh, điều luật theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội của bị cáo phạm tội có tính chất bộc phát, nhận thức pháp luật còn hạn chế, các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có đơn bãi nại, bị cáo lần đầu phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội dưới 18 tuổi, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được giáo dục tại gia đình để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, tiếp tục học tập.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên và không tự bào chữa, không tranh luận, các bị cáo đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Luật sư, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp. Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận G, Tp. Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, thẩm vấn tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. Lời khai nhận tội của bị cáo Ngọ Hồng P tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện bị cáo đã thực hiện hành vi Khoảng 06 giờ 30 ngày 10/3/2023, Ngọ Hồng P điều khiển xe mô tô Honda hiệu Airblade biển số 36B5 – 601.62 thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động iphone 12 trị giá 10.083.333 đồng của anh Phạm Anh C tại trước địa chỉ số X5 đường Y5, Phường Z4, quận G, Tp. Hồ Chí Minh. Đủ cơ sở xác định bị cáo Ngọ Hồng P phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Việc truy tố, luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận G, Tp. Hồ Chí Minh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo sử dụng xe gắn máy làm phương tiện cướp giật tài sản có thể gây nguy hiểm cho người bị hại và những người tham gia giao thông khác. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
  4. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có đơn bãi nại, bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm đối với bị cáo.
  5. Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5, Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  6. Đối với Lương Tiểu B không biết chiếc điện thoại bị cáo P nhờ cất giữ là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
  7. Về trách nhiệm dân sự: Đối với ông Phạm Anh C, tại phiên tòa ông C vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện ông C đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.
  8. Về xử lý vật chứng:
    • Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh. Là tài sản của người bị hại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã trả lại cho người bị hại là đúng theo quy định của pháp luật.
    • 01 (một) chiếc xe mô tô Honda hiệu Air Blade, biển số: 36B5 – 601.62. Qua xác minh, chiếc xe trên do ông Ngọ Văn Hùng, sinh năm: 1978 (cha ruột của Ngọ Hồng P) đứng tên chủ sở hữu. Qua hồ sơ thể hiện việc Ngọ Hồng P tự ý lấy chiếc xe mô tô trên để đi học và sử dụng đi cướp giật tài sản thì ông Ngọ Văn Hùng hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho ông Ngọ Văn Hùng là đúng theo quy định của pháp luật.
  9. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  10. Bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Ngọ Hồng P phạm tội “Cướp giật tài sản”.

-Căn cứ điểm d, khoản 2, Điều 171; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Ngọ Hồng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 01/8/2023 đến ngày 13/9/2023.

-Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận G;
  • - Công an quận G;
  • - Trại giam nơi giam bị cáo;
  • - Cơ quan Thi hành án dân sự quận G;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Anh Đức

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HSST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 119/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger