|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/HS - ST
Ngày: 06 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Tuấn
Cán bộ giáo dục nghỉ hưu
2. Bà Nguyễn Thị Xuyến
Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Thành Công - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Chu Thanh Thuỷ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2024/TLST - HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16/4/2006; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Triệu Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; vợ con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Có mặt tại phiên toà).
Bị hại: Cháu Trần Thị Thu H, sinh ngày 14/01/2009 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Anh Trần Văn C, sinh năm 1980 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: Xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1972 - Là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt tại phiên toà)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1976 (có mặt tại phiên toà)
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Triệu Văn T và cháu Trần Thị Thu H (sinh ngày 14/01/2009, trú tại xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) quen biết và nói chuyện với nhau qua mạng xã hội Facebook từ ngày 03/6/2024 rồi nảy sinh tình cảm. T sử dụng tài khoản Facebook có tên “Triệu Văn T” để nhắn tin, nói chuyện với cháu H qua tài khoản Facebook tên “Oze kem”. Quá trình nói chuyện, giữa T và cháu H nảy sinh quan hệ tình cảm yêu đương. Vào các ngày 05/6/2024 và 06/6/2024, T và cháu H đã hai lần quan hệ tình dục với nhau, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Khoảng 7 giờ 00 phút, ngày 05/6/2024, T và H hẹn nhau đi chơi, T điều khiển xe mô tô Honda Dream màu nâu BKS 20L9 - 0741, là xe của chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1976, trú tại xóm Đ, xã Y, huyện Đ, mẹ đẻ của T đến nhà đón cháu H đi chơi tại khu di tích lịch sử 27/7 ở thị trấn H, huyện Đ. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T chở cháu H về nhà T chơi, cả hai đi vào phòng ngủ của T. Tại đây, T và cháu H ngồi lên giường ôm hôn nhau, T dùng tay phải luồn qua áo của H để sờ ngực, rồi tiếp tục dùng tay sờ xuống âm đạo của cháu H, kích thích các bộ phận sinh dục của cháu H. Tuyến cơi quần của cháu H và của T ra, rồi T đưa dương vật đang cương cứng vào âm đạo cháu H để quan hệ tình dục, được khoảng 4 - 5 phút thì T xuất tinh ra bên ngoài âm đạo của cháu H. Sau đó cả hai tự mặc quần áo, rồi nằm ngủ tới khoảng 16 giờ cùng ngày, T đưa cháu H về nhà tại xã B, huyện Đ.
- Lần thứ hai: Khoảng 7 giờ 00 phút, ngày 06/6/2024, T và cháu H hẹn gặp nhau, T đến đón và đưa cháu H về nhà T rồi cả hai ngồi chơi trong phòng của T, đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, T và cháu H ngồi lên giường ôm hôn nhau, T dùng tay sờ ngực cháu H, rồi tiếp tục dùng tay sờ xuống âm đạo của cháu H, kích thích các bộ phận sinh dục của cháu H. Tuyến cơi quần của T và kéo quần của cháu H đến ngang đùi, rồi T đưa dương vật đang cương cứng vào âm đạo cháu H để quan hệ tình dục, được khoảng 5 phút thì T mệt liền dừng lại. T ngủ nghỉ khoảng 3 - 4 phút, cả hai tiếp tục quan hệ tình dục được khoảng 05 phút thì T xuất tinh vào trong âm đạo của cháu H, cả hai tự mặc quần áo rồi nằm ngủ. Đến khoảng 19 giờ ngày 07/6/2024, có bạn của cháu H đến nhà T đón cháu H đi đâu không rõ.
Sau khi sự việc xảy ra cháu H đã kể lại sự việc cháu H quan hệ tình dục với Triệu Văn T cho anh Trần Văn C (là bố đẻ của cháu H) biết, ngày 18/6/2024, anh C làm đơn trình báo tới Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện huyện Đ đề nghị giải quyết.
Sau khi tiếp nhận tin báo, tổ giác tội phạm Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra xác minh, triệu tập Triệu Văn T tới làm việc, đã tạm giữ 01 Điện thoại di động iphone 7, vỏ màu hồng. Tiến hành trưng cầu giám định pháp y về tình dục đối với cháu Trần Thu H và Triệu Văn T.
Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 33/KLTDTE-TTPY ngày 19/6/2024 của Trung tâm P kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định: Vùng cổ có 02 vết bầm tím nhạt KT nhỏ. Màng trinh đã rách, vết rách cũ hoàn toàn tại vị trí (1-2)h, vết rách cũ không hoàn toàn tại vị trí 4h, 7h.
- Kết quả cận lầm sàng: Không tìm thấy hình ảnh tinh trùng, xác tinh trùng trên bệnh phẩm làm xét nghiệm.
2. Kết luận: Vùng cổ có 02 vết bầm tím nhạt KT nhỏ. Màng trinh đã rách, vết rách cũ hoàn toàn tại vị trí (1-2)h, vết rách cũ không hoàn toàn tại vị trí 4h, 7h.
Tại Kết luận giám định khả năng tình dục nam số 34/KLXHTD - TTPY ngày 19/6/2024 của Trung tâm P kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Sự phát triển của cơ quan sinh dục ngoài: Dương vật, tinh hoàn: bình thường.
- Khả năng cương dương khi kích thích thông thường: Dương vật có khả năng cương cứng để quan hệ tình dục.
2. Kết luận: Qua quá trình khám giám định, xác định Triệu Văn T tại thời điểm giám định có đủ khả năng sinh lý làm cương cứng dương vật để quan hệ tình dục.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo T đã bồi thường cho bị hại cháu H số tiền 15.000.000 đồng, cháu H và người đại diện theo pháp luật của cháu H không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự đối với T.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 màu hồng niêm phong trong phong bì kí hiệu ĐĐT.
Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 112/CT - VKSĐT, ngày 14/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Triệu Văn T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 3 năm 6 tháng tù đến 4 năm tù.
Về vật chứng: Áp dụng: Điều 47; 48 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại Iphone 7, nhưng cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng. Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không giải quyết. Các nội dung khác không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.
Phát biểu của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại: Nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, việc truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; điều luật áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là hoàn toàn chính xác.
Trong lời nói sau cùng bị cáo xác định đã ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin lỗi bị hại, xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, xin mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, thấy:
Lời khai nhận tội của bị cáo Triệu Văn T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Triệu Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung Điều 145 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
...”
[3]. Xét tính chất vụ án, vai trò và hành vi của bị cáo: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của người chưa thành niên, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Nên cần phải xử lý nghiêm minh, đảm bảo tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.
[4]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo do đó bị cáo được hưởng 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt:
Căn cứ hành vi, vai trò, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. HĐXX thấy: Khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng do đó cần ghi nhận. Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không giải quyết. Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị D không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7]. Vật chứng của vụ án:
Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu hồng, số Imei: 355343080454015, đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐTT không phải công cụ, phương tiện phạm tội. Tuy nhiên bị cáo còn phải chịu án phí đối với nhà nước nên cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho bị cáo.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10]. Các nội dung có liên quan khác: Ngoài ra tại Cơ quan điều tra cháu H còn khai nhận nhiều lần quan hệ tình dục với Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1995, trú tại xóm N, xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) tại nhà ở T2 và phòng trọ của T2. Xét thấy hành vi của T2 có dấu hiệu tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển nguồn tin đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/7/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo Triệu Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Triệu Văn T đã bồi thường cho bị hại cháu Trần Thị Thu H số tiền 15.000.000 đồng. Bị hại cháu Trần Thị Thu H và người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu hồng, số imei 355343080454015, đã qua sử dụng, được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu DTT.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong Quyết định chuyển vật chứng số 99/QĐ - VKS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Triệu Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án. Vắng mặt bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Triệu Cẩm Chi |
Bản án số 119/2024/HS - ST ngày 06/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
- Số bản án: 119/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/7/2024
