Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HS-ST

Ngày: 19/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Xuân Thảo
  2. Bà Phạm Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên - Thư ký Tòa án Nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 120/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

NGÔ VĂN HIẾU

sinh ngày 28 tháng 11 năm 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 6 Đ, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn H (chết) và bà: Vũ Thị N; Có vợ: Phan Thị Ngọc Y và 03 con: lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2003; Nhân thân: Bản án số 132/2009/HSST ngày 14/5/2009, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Bản án số 291/2010/HSST ngày 17/12/2010 Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tiền án: Bản án số 47/2020/HSS ngày 21/5/2020 Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 07/02/2022; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam: 05/01/2024. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 05/01/2024 tại trước địa chỉ số G B, Phường A, quận T, Đội Cảnh sát ma túy Công an quận T phối hợp Công an P, quận T kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang Ngô Văn H1 cất giấu trái phép chất ma túy trong người; thu giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (mẫu m) trong túi quần phía trước bên trái của H1 đang mặc. Tại bản Kết luận giám định số 921/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K, Công an Thành phố H kết luận: mẫu m có khối lượng 2,4407 gam là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn H1 khai nhận: Vào khoảng 20 giờ ngày 04/01/2024, H1 điện thoại cho bạn tên Há C (không rõ lai lịch) nhờ mua 800.000 đồng ma túy đá nhằm mục đích sử dụng. Đến 08 giờ ngày 05/01/2024 tại trước địa chỉ số F Đ, Phường A, quận T, người thanh niên đi xe Wave màu đỏ (không rõ biển số) đến đưa cho H1 01 gói ma túy đá, H1 trả tiền mặt 800.000 đồng mua ma túy. Tại nhà số F Đ, Phường A, quận T, H1 lấy một ít ma túy đá sử dụng một mình. Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 05/01/2024, H1 cất gói ma túy đá trong túi quần phía trước bên trái và điều khiển xe máy biển số 59P3- 326.96 đến trước số G B, Phường A, T thì bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính, bắt quả tang như trên.

Đối với đối tượng bán ma túy cho H1 do không xác định họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xem xét xử lý.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 gói nylon chứa tinh thể không màu đã được niêm phong, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký Ngô Văn H1 và hình dấu Công an P, quận T (tang vật ma túy còn lại sau giám định).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Hotwav Model H6 thu giữ của H1.
  • - 01 xe máy Honda Beat biển số 59P3-326.96 thu giữ của H1. Qua xác minh, chủ sở hữu xe là chị Nguyễn Thị Kim T. Chị T trình bày cho Ngô Văn H1 mượn đi công việc, không biết việc H1 cất giấu ma túy, phù hợp với lời khai của H1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại xe cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Kim T.

Tại bản cáo trạng số 124/CT-VKS ngày 11 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Ngô Văn H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng.
  • Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Ngô Văn H1, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Văn H1 đã có hành vi cất giấu trái phép 2,4407 gam là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng, thuộc trường hợp "Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc cất giấu chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Xét bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù nhằm mục đích cải tạo, giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện một cách triệt để, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 gói nylon chứa tinh thể không màu đã được niêm phong, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký Ngô Văn H1 và hình dấu Công an P, quận T (tang vật ma túy còn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Hotwav Model H6 thu giữ của bị cáo, xét thấy bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Ngô Văn H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 01 năm 2024.

[2] Tịch thu và tiêu hủy 01 gói nylon chứa tinh thể không màu đã được niêm phong, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký Ngô Văn H1 và hình dấu Công an P, quận T (tang vật ma túy còn lại sau giám định).

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Hotwav H6.

(Tình trạng vật chứng theo như Biên bản bàn giao vật chứng số 125/BB/2024 ngày 03/7/2024 giữa Công an quận T và Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình).

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 119/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger