Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN M, TỈNH SƠN LA

Bản án số: 119/2024/HS-ST

Ngày 10 - 7 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lù Văn Mẳn và ông Tòng Văn Máy;

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Phương, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà:

Ông Hà Văn Thiều, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lò Văn X, sinh ngày 08/4/1972, tại huyện M, tỉnh Sơn LaNơi cư trú: bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn LaNghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: lớp 3/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn T, sinh năm 1949 và con bà Cà Thị È (C7, Lò Thị È1), sinh năm 1952; có vợ Lò Thị S 1973 và 02 con, con lớn nhất sinh 1992, con nhỏ nhất sinh 1994; Tiền án: không; tiền sự: Không; Nhân thân: ngày 27/9/2006 bị Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” đã được xoá án tích; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.

2. Lò Văn C, sinh 08/9/1994; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Lò Văn X, sinh 1972 và bà Lò Thị S 1973; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: có 03 tiền án (ngày 15/4/2015 bị Toà án nhân dân huyện Mường La xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 20/7/2017 bị Toà án nhân dân huyện M xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; ngày 07/6/2024 bị Toà án nhân dân huyện Mường La xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; tiền sự: không; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; hiện nay đang chấp hành hình phạt 30 tháng tù, kể từ ngày bắt tạm giam 04/02/2024 theo bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 07/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Mường La; có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lò Thị Ssinh 1973; Nơi cư trú: Bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; có mặt.

- Người làm chứng:

Lò Văn T1sinh 1982, nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La vắng mặt.

Lò Văn T2sinh 1984, nơi cư trú: Bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn Lavắng mặt.

Nông Thị Hsinh 1982, nơi cư trú: Bản Gian, xã M, huyện M, tỉnh Sơn Lavắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 25/01/2024, tại bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Tổ công tác Công an xã M làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính đối với Lò Văn X phát hiện trong lòng bàn tay trái của X1 cất giữ 01 túi nilon màu trắng bên trong có 04 viên nén hình tròn màu hồng, X2 nhận đó là ma tuý. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện M điều tra theo thẩm quyền. Cùng ngày cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của X3 giữ: 01 túi nilon màu trắng, bên trong có cục nhựa màu đen; 01 gói giấy màu có chữ, bên trong có chứa cục bột màu trắng; 03 hộp dạng hình hộp chữ nhật đều có chữ nước ngoài; số tiền 150.000.000 đồng.

Ngày 26/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện MViện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Phòng K2 Công an tỉnh S tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ của Lò Văn X, như sau:

- 04 viên nén màu hồng trong túi nilon màu trắng có khối lượng là 0,42 gam, lấy 02 viên có khối lượng 0,21 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu là X1; còn lại: 02 viên có khối lượng 0,21 gam cho vào 01 túi nilon màu trắng ký hiệu X1A;

- Cục nhựa màu nâu đen trong túi nilon màu trắng (khám xét) có khối lượng là 0,67 gam, lấy 0,42 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu là X2, còn lại 0,25 gam ký hiệu X2A;

- Các cục bột màu trắng trong gói giấy (khám xét) có khối lượng là 1,17 gam, lấy 0,21 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu là X3, còn lại 0,96 gam ký hiệu X3A và 02 túi nilon; 01 mảnh giấy được niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định.

Ngày 26/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện thực hiện trưng cầu giám định đối với 03 hộp dạng hình hộp chữ nhật đều có chữ nước ngoài và số tiền 150.000.000 đồng thu giữ khi khám xét đối với Lò Văn X4

Ngày 30/01/2024, Phòng K2Công an tỉnh S Kết luận giám định số 446/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu X1 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam. Mẫu giám định ký hiệu X2 là ma túy; loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện); khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,42 gam. Mẫu giám định ký hiệu X3 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 1,17 gam; loại Heroine và 0,42 gam; loại Methamphetamine và 0,67 gam; loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện)”.

Ngày 28/02/2024, Phòng K2Công an tỉnh S Kết luận giám định số 885/KL-KTHS, kết luận: Các mẫu vật (03 hộp dạng hình hộp chữ nhật đều có chữ nước ngoài) gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng pháo là 5,38kg và đều mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất; mẫu vật giám định đã sử dụng hết.

Ngày 07/02/2024, Phòng K2Công an tỉnh S kết luận giám định số 496/KL-KTHS, Kết luận: Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật.

Lò Văn X khai nhận: khoảng đầu tháng 01/2024, X sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO gắn Sim1 số 0989571440 và Sim2 số [...] gọi cho Lò Văn C qua điện thoại di động hiệu iPhone 8 Plus gắn số 0868680995 hỏi “Có biết chỗ nào bán ma tuý không?” C trả lời “Có quen một người đàn ông dân tộc Mông tên N, trú tại huyện M, tỉnh Sơn La X nói với C nếu có ma tuý để mua thì sẽ mua với số tiền 40.000.000VNĐ, ngày 06/01/2024 X đến quán tạp hoá của chị Nông Thị H chuyển khoản số tiền 40.000.000VNĐ vào số tài khoản của C, đến khoảng 04 giờ ngày 11/01/2024 X5 được điện thoại xưng là nhà xe gọi lấy bao tải rau cải mèo từ M gửi lên, X6 điện thoại nhờ Quàng Văn Đ (là cháu) mang theo 50.000VNĐ đi trả cước xe và nhận bao tải rau cải mang về, Đ đi về nhà, X7 bao tải ra thấy 01 túi Methamphetamine và khoảng 1,5 cây Heroine, X6 điện báo với C đã nhận được ma tuý đồng thời cất giữ để sử dụng và bán lại kiếm lời, thực tế: ngày không nhớ X bán trái phép chất ma tuý cho Lèo Văn L được số tiền 200.000VNĐ; ngày 20/01/2024, X bán trái phép chất ma tuý cho Lò V T2 được số tiền 50.000VNĐ; ngày 21/01/2024 X bán trái phép chất ma tuý cho Lò Văn K được số tiền 100.000VNĐ; ngày 23/01/2024 X bán trái phép chất ma tuý cho Lò Văn T1 được số tiền 300.000VNĐ; ngày 24/01/2024 X bán trái phép chất ma tuý cho Lèo Văn P số tiền 200.000VNĐ. Số nhựa thuốc phiện có được từ tháng 9/2023, X8 bộ thì gặp một người đàn ông (không biết họ tên, tuổi, địa chỉ) hỏi và mua được 01 túi mang về cất giữ mục đích sử dụng và bán lại kiếm lời. 03 hộp dạng hình hộp chữ nhật đều có chữ nước ngoài là pháo X mua để sử dụng; số tiền 150.000.000VNĐ là tiền do vợ bị cáo tích luỹ mà có.

Thực hiện điều tra đối với Lò Văn C thu giữ 01 điện thoại di động hiệu iPhone 8 Plus gắn số 0868680995, C khai nhận: Sau khi bố đẻ (X nhờ tìm mua ma tuý, C1 gọi cho Nhà qua điện thoại di động số 0364.502.xxx và 0362355761 hỏi mua ma tuý, N đồng ý bảo C chuyển tiền trước. Sau khi nhận tiền X nhờ chị H1 đến 40.000.000VNĐ, ngày 06/01/2024 C chuyển vào số tài khoản do Nhà cung cấp số 4120299518 mang tên Giàng A K1(C chụp lại giao dịch chuyển tiền), N điện thoại bảo C sẽ gửi ma tuý qua xe khách từ huyện M lên huyện M và gửi số điện thoại của X9 Đ cho N để N bảo xe khách gọi nhận hàng, đồng thời báo C gọi điện báo lại cho X10 nội dung “người gửi hàng (ma tuý) sẽ gửi qua xe khách, ngày 11/01/2024 C nhận được điện thoại của X11 đã nhận được ma tuý.

Ngày 20/3/2024, thực hiện mở niêm phong kiểm tra nội dung thông tin lưu trữ trong điện thoại của C, kết quả có lưu danh bạ các số điện thoại của N, trong ứng dụng ảnh lưu có nội dung: Tài khoản nguồn 0868680995 LÒ VĂN CƯỜNG chuyển số tiền 40.000.000VNĐ đến tài khoản GIÀNG A KHAI 4120299518- Đầu tư V(B1C xác định đó là hình ảnh nội dung chuyển tiền mua bán trái phép chất ma tuý.

Thực hiện đối chất giữa X và C có cùng lời khai thống nhất về việc C là người giao dịch mua trái phép chất ma tuý cho X; tổ chức nhận dạng qua ảnh Giàng A K1 nhưng C không nhận dạng được hình ảnh Giàng A K1 là người có tên N phù hợp với văn bản xác minh thông tin đối với Giàng A K1 anh K1 xác định chưa đăng ký sử dụng tài khoản ngân hàng nêu trên; mở rộng điều tra đối với Lèo Văn L, Lò Văn T V, Lò Văn T1 và Lèo Văn P1 định đều được mua trái phép chất ma tuý với X nhưng T2 T1 chưa có tiền án, tiền sự là người sử dụng trái phép ma tuý cơ quan chức năng đã áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính; đối với Lò Văn K, Lèo Văn L đã bị khởi tố trong vụ án khác; đối với Lèo Văn P và Quàng Văn Đ1, hiện không có mặt tại địa phương nên tiếp tục làm rõ và xử lý khi có căn cứ.

Tiến hành điều tra, xác minh đối với người bán trái phép nhựa thuốc phiện cho X12 có tên N và nhà xe nhận chuyển hàng giao cho Đ nhưng không thu thập được tài liệu khác; đối với chị Nông Thị H2 là người được X13 chuyển tiền nhưng không biết việc phạm tội nên không có cơ sở xử lý; đối với số tiền 150.000.000VNĐ chị Lò Thị S1 xác định là tiền tích luỹ của gia đình, việc X14 bán trái phép chất ma tuý chị không biết, xin nhận lại số tiền. Ngày 21/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện M quyết định trả lại số tiền 150.000.000VNĐ cho chị S2 S không yêu cầu gì thêm.

Ngày 23/3/2024 Công an huyện M đề nghị UBND huyện M vi phạm hành chính Lò Văn X15 hành vi cất giữ trái phép 5,38kg.

Tại Bản cáo trạng số 81/CT-VKS-ML ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lò Văn X, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Lò Văn C, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo X2 nhận toàn bộ hành vi phạm tội với mục đích mua ma túy cất giữ để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời thì bị bắt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố các bị cáo Lò Văn X Lò V phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s, t khoản 1 Điều 51, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn X từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 05 triệu đến 10 triệu đồng. Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, 38, 58, 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo C; tổng hợp với bản án trước buộc bị cáo C chấp hành hình phạt chung từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù. Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 0,21 gam Methamphetamine ký hiệu X1A; 0,25 gam nhựa thuốc phiên ký hiệu X2A; 0,96 gam Heroine ký hiệu X3A và 02 túi nilon; 01 mảnh giấy. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: số tiền 650.000VNĐ và 02 điện thoại di động của các bị cáo; chấp nhận cơ quan CSĐT đã trả lại số tiền 150.000.000VNĐ cho chị Lò Thị S1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, buộc các bị cáo Lò Văn X Lò V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lò Văn X tự bào chữa, tranh luận: Do bản thân nghiện ma túy nên mua ma túy cất giữ, mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời; xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Lò Văn C tự bào chữa, tranh luận: nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân; xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Thị S1 nhất trí đề nghị và không yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử thấy lời khai có trong hồ sơ đã rõ nên quyết định xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà là thống nhất, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: Hồi 18 giờ ngày 25/01/2024, Tổ công tác Công an xã M làm nhiệm vụ tại bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, phát hiện Lò Văn X16 cất giữ 04 viên nén hình tròn màu hồng, X2 nhận đó là ma tuý; Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người quả tang; tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của X3 giữ: 01 túi nilon màu trắng, bên trong có cục nhựa màu đen; 01 gói giấy, bên trong có chứa cục bột màu trắng, X17 định đó là ma tuý do X18 mua và do C giao dịch mua được phù hợp với lời khai của Lò Văn C xác định được nhận mua trái phép chất ma tuý giúp X với số tiền 40.000.000VNĐ. Tại kết luận giám định số 446/KL-KTHS, ngày 30/01/2024 của Phòng K2Công an tỉnh S5, kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu X1 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam. Mẫu giám định ký hiệu X2 là ma túy; loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện); khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,42 gam. Mẫu giám định ký hiệu X3 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 1,17 gam; loại Heroine và 0,42 gam; loại Methamphetamine và 0,67 gam; loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện)”. Như vậy, các bị cáo Lò Văn X Lò Văn C2 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Lò Văn X19 cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 03 chất ma tuý có tổng khối lượng 2,26 gam chất ma túy để sử dụng cho bản thân và bán trái phép chất ma tuý cho người khác 05 lần để kiếm lời là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn X20 tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lò Văn C2 đã được cải tạo giáo dục nhiều lần: ngày 15/4/2015 bị kết án về tội “ Trộm cắp tài sản” bị cáo chưa được xoá án tích lại tái phạm, ngày 20/7/2017 bị xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; ngày 11/02/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù về địa phương đến ngày 06/01/2024 bị cáo C3 tiếp giao dịch chuyển tiền mua trái phép chất ma tuý cho Xuân để bán lại kiếm lời; theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự thì bị cáo C chưa được xoá án tích lại cố ý phạm tội, theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 53 Bộ luật Hình sự “Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý” đã phạm tình tiết định khung tăng nặng tại điểm q khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự, “Tái phạm nguy hiểm”. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Người nào phạm tội thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: b) Phạm tội 02 lần trở lên; q) Tái phạm nguy hiểm”.

[4] Về tính chất mức độ của hành vi: Các bị cáo đã được Đảng và Nhà nước tuyên truyền, vận động, cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý, đã được cải tạo giáo dục, rèn luyện bản thân nhưng ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, vì sử dụng ma tuý và mục đích tư lợi cá nhân, kiếm lời dễ dàng các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự phân công, không có sự cấu kết chặt chẽ nên chưa được coi là có tổ chức, theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo là đồng phạm giản đơn, trong đó Lò Văn X là người khởi xướng đồng thời là người thực hành tích cực nên giữ vai trò chính, còn C là người vai trò trung gian (trực tiếp liên hệ mua trái phép chất ma tuý với Nhà, cho N số điện thoại để chuyển hàng (ma tuý) tới tay X) nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về vai trò của mình. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; tội phạm các bị cáo thực hiện đã hoàn thành, hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và rất nghiêm trọng, không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của con người, suy giảm khả năng lao động do sử dụng ma túy và kinh tế của gia đình bị cáo mà còn ảnh hưởng chính sách cải tạo giáo dục của Nhà nước, ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết các bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

Đối với bị cáo Lò Văn C2, hiện đang chấp hành hình phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 97/2024/HS-ST ngày 07/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Mường La nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung hai bản án.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Các bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (luôn thể hiện sự cắn rứt, dày vò lương tâm, chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt); bị cáo X tự thú (đã khai ra hành vi bán trái phép chất ma túy năm lần cho người khác); sau khi bị bắt X khai ra đồng phạm (C) là tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, phát hiện tội phạm. Do đó, xét cho bị cáo X được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo X, C là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu xa, nhận thức pháp luật hạn chế nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, X21 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy) nên cần cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.

[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo C tại phiên tòa xác định: không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo C; đối với bị cáo X22 khám nhà có thu giữ số tiền 150.000.000VNĐ, chị S(vợ X17 định đó là tài sản tích luỹ của gia đình cho thấy tình hình tài sản của X có giá trị nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251; khoản 2 Điều 35 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung số tiền 10.000.000VNĐ đối với bị cáo X4

[8] Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; các bị cáo bị tạm giữ, giam được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[9] Đối với L1 chưa có tiền án, tiền sự là người sử dụng trái phép ma tuý cơ quan chức năng đã áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính; đối với Lò Văn K, Lèo Văn L đã bị khởi tố trong vụ án khác; đối với Lèo Văn P và Quàng Văn Đ1, hiện không có mặt tại địa phương nên tiếp tục làm rõ và xử lý khi có căn cứ.

Đối với người bán trái phép nhựa thuốc phiện cho X12 có tên N và nhà xe nhận chuyển hàng giao cho Đ nhưng không thu thập được tài liệu khác; đối với chị Nông Thị H2 là người được X13 chuyển tiền nhưng không biết việc phạm tội của X; Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không thu thập được tài liệu khác nên không có cơ sở chứng minh, xử lý theo vụ án.

Đối với hành vi cất giữ trái phép pháo hoa nổ có khối lượng 5,38kg của Lò Văn X23 đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên ngày 23/3/2024 Công an huyện M đề nghị UBND huyện M vi phạm hành chính Lò Văn X24 có căn cứ đúng thẩm quyền.

[10] Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đã lấy mẫu giám định 0,21 gam Methamphetamine; 0,42 gam nhựa thuốc phiện; 0,21 gam Heroine và 5,38 kg pháo hoa nổ không hoàn lại mẫu nên không có cơ sở xử lý.

Hiện đang lưu kho vật chứng: 0,21 gam Methamphetamine ký hiệu X1A; 0,25 gam nhựa thuốc phiên ký hiệu X2A; 0,96 gam Heroine ký hiệu X3A còn lại là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

02 túi nilon; 01 mảnh giấy bị cáo X19 sử dụng làm phương tiện cất giữ trái phép chất ma tuý là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền bị cáo X đã bán bán trái phép chất ma túy có được tổng cộng 650.000VNĐ là số tiền do phạm tội mà có, bị cáo X đã chi tiêu hết nên cần phải truy thu, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 hiệu OPPO gắn Sim1 số 0989571440 và Sim2 số [...] và 01 điện thoại di động hiệu iPhone 8 Plus gắn số 0868680995 là tài sản của các bị cáo, các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 150.000.000VNĐ là tài sản thuộc quyền quản lý của chị Lò Thị S3 tiền không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chị S4 đúng thẩm quyền, căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định các bị cáo là người dân tộc thiểu số nhưng không sống ở vùng đặc biệt khó khăn, không có căn cứ miễn, giảm nộp tiền án phí nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2, 5 Điều 251; Điều 38; điểm r, s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; khoản 2 Điều 35 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Lò Văn X

Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 1 điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Lò Văn C2.

1. Tuyên bố: các bị cáo Lò Văn X và Lò V1 C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt:

Bị cáo Lò Văn X 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (26/01/2024); phạt bổ sung nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.000.000VNĐ đối với Lò Văn X

Bị cáo Lò Văn C2 07 (B) năm tù, tổng hợp với hình phạt tù của bản án số 97/2024/HS-ST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, tuyên phạt Lò Văn C4 (Ba mươi) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”, theo điểm d khoản 2 điều 134 Bộ luật Hình sự; Lò Văn C5 chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 09 (Chín) năm 06 (S1 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/02/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 0,21 gam Methamphetamine ký hiệu X1A; 0,25 gam nhựa thuốc phiên ký hiệu X2A; 0,96 gam Heroine ký hiệu X3A; 02 túi nilon; 01 mảnh giấy của Lò Văn X4

Truy thu, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO gắn Sim1 số 0989571440 và Sim2 số [...] và số tiền 650.000VNĐ (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) của Lò Văn X4

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus gắn số 0868680995 của Lò Văn C2 (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện M Thi hành án dân sự huyện M).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo Lò Văn X và Lò Văn C6 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) đối với một bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/7/2024).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự;Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện M;
  • - CA h.Mường La (Bộ phận Hồ sơ, CSĐT, THAHS, Nơi giam);
  • - Chi cục THADS huyện M;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú; Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 119/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn X cùng đồng phạm, Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger