Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10 - 9 - 2024

Về việc Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh
  • Ông Bùi Văn Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 29/2024/TLST- HNGĐ ngày 26/01/2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 102/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D; sinh năm 1991
  • Nơi ĐKNKTT: Thôn M, xã Y, huyện C, Hà Tĩnh hiện đang lao động tại Đài Loan. Vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Hoàng Văn P; sinh năm 1991
  • Nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Thôn M, xã Y, huyện C, Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Nguyễn Thị D trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn P kết hôn với nhau năm 2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và yêu thương nhau. Dần dần, tình cảm vợ chồng bắt đầu rạn nứt, vợ chồng không còn hoà hợp, không còn tiếng nói chung. Mặc dù đã nhiều lần cố gắng để hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không được. Đỉnh điểm đến đầu năm 2023, anh P qua Đài Loan sinh sống và làm việc khiến mâu thuẫn ngày càng trở nên căng thẳng. Hiện tại, chị và anh P không còn liên hệ, quan tâm, hỏi han chăm sóc nhau. Nay chị nhận thấy vợ chồng không còn yêu thương nhau, đời sống chung không thể kéo dài thêm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Hoàng Văn P.
  • - Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Hoàng Thị Cát T; sinh ngày: 08/02/2018. Hiện con đang sống cùng ông bà nội, chị có nguyện vọng giao con cho anh Hoàng Văn P trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng và không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị D trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh P tại Đài Loan và đề nghị Tòa án thu thập địa chỉ của anh qua cha mẹ anh.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương anh P cư trú trước khi xuất cảnh và làm việc với mẹ anh bà Võ Thị M (Trú tại: Thôn M, xã Y, huyện C, Hà Tĩnh); Bà cung cấp thông tin: Con trai bà Hoàng Văn P hiện đang đi lao động ở Đài Loan. Gia đình bà đã biết việc chị D làm đơn xin ly hôn anh P. Vợ chồng D, P kết hôn năm 2017 tại UBND xã C, bà không biết nguyên nhân tại sao D xin ly hôn P. Anh P thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không cho gia đình biết địa chỉ nên bà không thể cung cấp cho Tòa án được. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Thị Cát T; sinh ngày 08/02/2018, hiện cháu đang sống cùng ông bà, gia đình bà có nguyện vọng tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng C.

Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83; Mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Công văn số 253/TANDTC -PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D

Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị D ly hôn anh Hoàng Văn P.

Về con chung: Giao con chung là Hoàng Thị Cát T; sinh ngày 08/02/2018 cho anh Hoàng Văn P chăm sóc nuôi dưỡng, nhưng tạm giao con cho ông bà nội là Hoàng Văn T1, Võ Thị M chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh P đang ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và bà Võ Thị M (mẹ anh P) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh P ở Việt Nam là Thôn M, xã Y, huyện C, Hà Tĩnh. Theo Công văn số 3581/QLXNC- P3 ngày 21/02/2024 của Cục Q Bộ C thì anh Hoàng Văn P đã xuất nhập cảnh nhiều lần, anh P xuất cảnh lần cuối cùng ngày 02/3/2023 và hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý vụ án giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Gia đình anh Hoàng Văn P cho biết anh P vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh P không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh P tại Đài Loan và không gửi ý kiến về vụ án. Căn cứ công văn số 253/TANDTC- PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các vụ án có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài thì đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã đăng thông báo về việc giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình cho anh P trên kênh V và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị D quá trình thụ lý giải quyết có mặt nhưng hiện nay chị đang làm việc tại Nhật Bản không thể về Việt Nam để tham gia phiên tòa được và có đơn xin được xét xử vắng mặt, ủy quyền giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị D theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Văn P đăng ký kết hôn ngày 011/10/2017 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện. Việc kết hôn giữa anh P, chị D thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc. Sau một thời gian, tình cảm vợ chồng bắt đầu rạn nứt, vợ chồng không còn hoà hợp, không còn tiếng nói chung. Mặc dù đã nhiều lần cố gắng để hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không được. Đầu năm 2023, anh P đi lao động tại Đài Loan và mâu thuẫn ngày càng trở nên căng thẳng. Vợ chồng đã không liên lạc với nhau, không quan tâm đến nhau. Hiện tại, chị D xét thấy không còn tình cảm với anh P và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Anh P mặc dù biết việc chị D xin ly hôn nhưng không có ý kiến gì.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng cuộc hôn nhân của anh Hoàng Văn P và chị Nguyễn Thị D không đạt được mục đích đó. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị D, xử cho chị Nguyễn Thị D ly hôn anh Hoàng Văn P.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Thị Cát T; sinh ngày 08/02/2018, hiện đang ở cùng ông nội Hoàng Văn T1, bà Võ Thị M thôn M, xã Y, huyện C, Hà Tĩnh. Chị D có nguyện vọng giao con chung cho anh P chăm sóc nuôi dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án anh P không có ý kiến gì nhưng xét hoàn cảnh anh P và chị D đều không ở Việt Nam nên để đảm bảo sự ổn định về môi trường sống của con thì cần chấp nhận yêu cầu của chị D giao con chung cho anh P chăm sóc và nuôi dưỡng. Trong thời gian anh P chưa về nước tạm giao con cho ông bà nội là ông Hoàng Văn T1, bà Võ Thị M tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án bà Võ Thị M cũng có ý kiến tự nguyện nuôi cháu. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con mặc dù anh P không có ý kiến nhưng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con thì cần buộc chị D phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết, khi nào anh P về Việt Nam và có yêu cầu giải quyết về tài sản thì sẽ khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị D tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 273, 464, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 7; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Công văn số 253/TANDTC - PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị D ly hôn anh Hoàng Văn P.
  2. Về con chung:
  3. Giao con chung là Hoàng Thị Cát T; sinh ngày 08/02/2018 cho anh Hoàng Văn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm giao con cho ông bà Hoàng Văn T1, Võ Thị M chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh P ở nước ngoài. Chị Nguyễn Thị D phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) kể từ tháng 9/2024 đến khi con đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con.

    Chị Nguyễn Thị D được quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.

  4. Về án phí:
  5. Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số số 0000780 ngày 26/01/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Chị D còn phải nộp 300.000 đồng.

Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án (hoặc ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật).

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THSDS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Yên Hòa, huyện Cẩm Xuyên;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 119/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị D xin ly hôn Hoàng Văn P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger