Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 119/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v tranh chấp về dân sự ranh

giới quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Phú Mỹ

Bà Nguyễn Thị Đẹp

- Thư ký phiên toà: bà Huỳnh Hoàng Linh– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 và 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp về dân sự ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 35A/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Số H, ấp P, xã T, Tp ., Đ.

Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Trí H, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số A, L, khóm A, Phường C, Tp ., Đ.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Số H, ấp P, xã T, Tp ., Đ.

2.2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964.

Địa chỉ:

Số H, Ấp P, xã T, TP ., Đ.

Tại phiên tòa, ông H, ông Q, ông T có mặt; anh N, chị L, anh C, chị D, bà Kim A, anh S, anh N1, anh H1 vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn chị Nguyễn Thị K là ông Trần Trí H trình bày:

Phần đất tại thửa đất 526, tờ bản đồ số 3, diện tích 202,4 m² đất tọa lạc tại ấp P, xã T, Tp . hiện do chị Nguyễn Thị K đứng tên có nguồn trước đây là thửa đất 82, tờ bản đồ số 3, do ông Nguyễn Văn Q đứng tên, sau đó ông Q chuyển nhượng lại cho anh Nguyễn Văn B, anh B chuyển nhượng lại cho Nguyễn Thị Kim X, chị X chuyển nhượng lại cho bà Ngô Thị H2, nhưng do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Q còn đứng tên nên năm 2008 ông Q mới làm thủ tục chuyển nhượng lại cho bà Ngô Thị H2 (mẹ ruột chị K), đến năm 2016 bà H2 làm thủ tục tách thửa đất số 82 thành 02 thửa là thửa 525 và 526, đến ngày 16/3/2016 thì bà Ngô Thị H2 làm hợp đồng tặng cho lại con là chị Nguyễn Thị K thửa đất số 526, còn thửa đất số 525 thì bà H2 đứng tên quản lý, sử dụng.

Tiếp giáp thửa đất 526 là thửa đất số 2237, tờ bản đồ số 2 (bản đồ 299) nhưng theo bản đồ tọa độ lưới là thửa đất 92, tờ bản đồ 3 (chưa cấp đổi) hiện hộ ông Nguyễn Văn T đứng tên quyền sử dụng đất nhưng ông Q và 02 con ông Q đang quản lý, sử dụng.

Vào năm 2008 khi làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 82, tờ bản đồ số 3 giữa ông Nguyễn Văn Q và bà Ngô Thị H2 thì ông Q chuyển nhượng nguyên thửa đất số 82, diện tích 578,7m², còn trên thực địa thì ông Q xác định ranh đất của thửa đất số 82 từ hàng rào cây.... (nay là hàng rào B40) trở về đất bà H2, chị K đang quản lý, sử dụng hiện tại. Vị trí hàng rào ông Q chỉ thời điểm chuyển nhượng và hàng rào lưới B40 hiện tại không thay đổi.

Quá trình quản lý, sử dụng thì chị K phát hiện phần đất chị K thiếu, cụ thể thiếu chiều ngàng phía trước 3,5m, chiều ngàng phía sau 3,5m, chiều dài 26,8m. Khi chị K phát hiện đất bị lấn chiếm thì chị K có khiếu nại đến UBND xã T hòa giải nhưng hòa giải không thành.

Hiện thửa đất số 2237, tờ bản đồ số 2 (bản đồ 299) nhưng theo bản đồ tọa độ lưới là thửa đất 92, tờ bản đồ 3 (chưa cấp đổi) hiện hộ ông Nguyễn Văn T, đứng tên quyền sử dụng đất nhưng ông Nguyễn Văn Q và 02 con ông Q đang quản lý, sử dụng. Tại phần đất bị lấn chiếm có 02 căn nhà tole tiền chế gồm một căn nhà của anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị Thùy L và 02 con của anh N và chị L đang sinh sống và một căn nhà của anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị D và 02 con của anh C, chị D đang sinh sống và 01 nhà vệ sinh, 01 bể nước của ông Q.

2

Nay bà Nguyễn Thị K yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất thửa đất 526, tờ bản đồ 03 của chị K với thửa đất số 2237, tờ bản đồ số 2 (tọa dộ lưới hửa đất số 92, tờ bản đồ số 3) của hộ ông Nguyễn Văn T đứng tên nhưng ông Q quản lý, sử dụng là đường nối từ mốc M12A-M13A-M14A-M15A-M16A-M4A. Trên cơ sở đó, chị K yêu cầu ông Nguyễn Văn Q, hộ ông Nguyễn Văn T gồm ông Nguyễn Văn T, bà Lê Thị Kim A, anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1, anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị Thùy L, anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị Diệu di D1 các tài sản trên đất tranh chấp để trả lại cho chị K phần đất diện tích là 91,5m², cụ thể tại H diện tích 78,2m² gồm các mốc M5 – M4 – M16 – M15 – M14 – M13 - M13 – M12 – M11 – M10 – M9 – M8 – M7 – M6 – M5 – M4 và Hình 1A diện tích 13,3m² gồm các mốc M4 - M4A - M16A - M15A – M14A – M13A – M12A – M12 M13 – M14 – M15 – M16 – M4 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 25/9/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Chi Khai không đồng ý nhận giá trị đất và cũng không đồng ý bồi thường thiệt hại tài sản hay hỗ trợ di dời.

Ngoài ra, chị K không có yêu cầu gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Phần đất ông Q đang sử dụng là thửa đất số 2237, diện tích 424 m² (bản đồ tọa độ lưới là thửa đất 92, tờ bản đồ số 3, chưa cấp đổi) có nguồn gốc là do ông, bà nội của ông Q để lại cho cha ông Quân, sau đó cha ông Quân cho ông Q quản lý, sử dụng. Đến 1999 ông Q chuyển nhượng thửa đất 2237 cho ông Nguyễn Văn T, đến năm 2006-2007 ông Q mua lại (nhận chuyển nhượng) của ông T thửa đất số 2237, tờ bản đồ số 2 (theo tọa độ lưới là thửa 92, tờ bản đồ số 3), việc nhận chuyển nhượng này không có làm văn bản, ông Q và ông T chưa làm thủ tục sang tên cho ông Q đứng tên, hiện thửa đất số 2237 còn cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện ông Q và các con ông Q đang quản lý, sử dụng thửa đất số 2237 này, ông T không có sử dụng.

Đối với thửa đất số 526, tờ bản đồ số 3, diện tích 202,4 m² đất tọa lạc tại ấp P, xã T, Tp . hiện do chị Nguyễn Thị K đứng tên có nguồn gốc trước đây là một phần thửa đất số 97, tờ bản đồ số 2, cấp cho ông Nguyễn Văn Q ngày 26/5/1992. Sau đó ông Q chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn B vào thời gian nào, giá tiền bao nhiêu thì ông Q không nhớ, thời điểm chuyển nhượng ông Q và anh B không có làm hợp đồng chuyển nhượng, không có đến cơ quan Nhà nước làm thủ tục sang tên cho anh B đứng tên, nên anh B không có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc chuyển nhượng không có làm văn bản do ông Q và anh B quan hệ bà con. Sau đó một thời gian thì anh B chuyển nhượng lại cho chị Nguyễn Thị Kim X, việc anh B chuyển nhượng cho chị X vào thời gian nào, giá chuyển nhượng bao nhiêu thì ông Q không biết, chị X cũng không có được cấp

3

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó chị X chuyển nhượng lại thửa đất này cho bà Ngô Thị H2 (mẹ bà K, cũng là mẹ chị X). Việc chị X chuyển nhượng thửa đất này lại cho bà H2 thời gian nào và giá bao nhiêu thì ông Q không biết nhưng do phần đất này ông Q còn đứng tên nên bà H2 có yêu cầu ông Q làm thủ tục cấp đổi thửa đất số 97. Sau khi cấp đổi thì thửa đất số 97 tờ bản đồ số 2 (bản đồ 299) cấp thành thửa đất số 82, tờ bản đồ số 3 (tọa độ lưới). Sau khi ông Q đứng tên thửa đất số 82 thì ông Q mới làm hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 82 cho bà Ngô Thị H2 vào ngày 12/01/2008. Đến năm 2016 bà H2 làm thủ tục tách thửa đất số 82 thành 02 thửa là thửa đất số 525 và 526, đến ngày 16/3/2016 thì bà Ngô Thị H2 làm hợp đồng tặng cho lại con là chị Nguyễn Thị K thửa đất số 526, còn thửa đất số 525 thì bà H2 đứng tên quản lý, sử dụng.

Thời điểm ông Q chuyển nhượng thửa đất số 92 cho anh B thì chưa có hàng rào B40 nhưng ông Q có đào cái mương chiều ngang 3m, chiều dài 16m (tính từ đầu đường đal vào), chiều sâu mương 1m, sau đó bồi còn lại 70cm, ông Q bán cho anh B từ mí bờ mương trở về phần đất chị K hiện tại. Sau đó anh B chuyển nhượng lại đất cho chị X cũng đất trống, ranh đất cũng từ mí mương trở về đất chị K. Sau đó chị X chuyển nhượng lại cho bà H2 thì bà H2 có trồng hàng hàng gòn ngay mí bờ mương, sau đó gòn lớn sợ sập nhà con ông Q nên bà H2 chặt hàng gòn, sau đó ông Q xây hàng rào B40, hàng rào B40 ông Q xây vào khoảng năm 2006-2007, trước ngày ông Q làm hợp đồng chuyển nhượng cho bà H2. Vị trí xây hàng rào này nằm ngay hàng gòn và ngay vị trí mí bờ mương ranh giữa ông Q với anh B và chị X. Thời điểm ông Q xây hàng rào thì bà H2 biết không phản đối hay có ý kiến gì.

Ngoài ra, vào năm 2006, ông Q có mua lại của chi Nguyễn Thị Kim X một phần đất có chiều ngang 1,5m, chiều dài 11m cho ranh đất mương ông Q thẳng từ trước phía sau (Hiện tại hàng rào B40). Vị trí mua đất của chị X ngay nhà của con Nguyễn Văn C. Sau khi mua lại phần đất này ông Q cho con gái là Nguyễn Thị L1 cất nhà, chị L1 cất nhà khoảng 03 năm thì tháo dỡ do L1 có chồng ở Hà Nội, nhà bỏ trống nên ông Q tháo dỡ, sau này con trai Nguyễn Văn C có vợ mới cất nhà ra ở riêng, ngay nền nhà L1 trước đây.

Hiện tại trên phần đất tranh chấp có 02 căn nhà tole tiền chế gồm căn nhà của Nguyễn Văn C, cùng vợ, Nguyễn Thị D và 02 con là Nguyễn Văn C1, sinh năm 2007 và Nguyễn Thành K1, sinh năm 2013 và căn nhà của Nguyễn Văn N, cùng vợ là Nguyễn Thị Thùy L và 02 con Nguyễn Thị Thùy N2, sinh năm 2010 và Nguyễn Thị Mai H3, sinh năm 2011, 01 nhà vệ sinh và một bồn nước của ông Q.

Nay ông Nguyễn Văn Q không đồng ý theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị K. Ông Q xác định ranh đất thửa số 2237, tờ bản đồ số 2 (bản đồ theo tọa độ lưới là

4

thửa 92, tờ bản đồ số 3) của ông Q và thửa đất 526, tờ bản đồ số 3 của chị K theo các mốc M5-M6-M7-M8-M9-M10-M11-M4 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 25/9/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.

Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị K, ông Q đồng ý liên đới với Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị D, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị Thùy L trả giá trị đất cho chị K theo giá Hội đồng định giá tài sản.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn T trình bày:

Nguồn gốc thửa đất 2237, tờ bản đồ số 2, đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S do ông Nguyễn Văn Q chuyển nhượng (bán) cho ông T Thời điểm nhận chuyển nhượng của ông Q là đất vườn, sau khi nhận chuyển nhượng thì ông T chuyển mục đích sử dụng thành đất thổ cư, sau đó ông T cho ông Q ở nhờ trên đất, sau đó ông Q có trả tiền mua lại thửa đất 2237 này. Hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất 2237, tờ bản đồ số 2 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T, trong hộ ông T bao gồm ông Nguyễn Văn T, bà Lê Thị Kim A, anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1. Đối với thửa đất 2237, tờ bản đồ số 2 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T nhưng trên thực tế thửa đất này ông T đã chuyển nhượng lại cho ông Q từ lâu, hiện tại ông Q đang quản lý, sử dụng, ông T không có quản lý, sử dụng hay có tài sản gì trên thửa đất này.

Trong trường hợp yêu cầu của chị Nguyễn Thị K yêu cầu ông và ông Nguyễn Văn Q trả lại cho chị K phần đất có diện tích là 91,5m², cụ thể tại Hình 2 diện tích 78,2m² gồm các mốc M5 - M4 - M16 - M15 - M14 - M13 - M13 - M12 - M11 - M10 - M9 - M8 - M7 - M6 - M5 - M4 và Hình 1A diện tích 13,3m² gồm các mốc M4 - M4A - M16A - M15A - M14A - M13A - M12A - M12 - M13 - M14 - M15 - M16 - M4 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S được chấp nhận thì ông T đồng ý với cùng ông Q trả phần đất 91,5m² cho chị K.

Trong trường hợp yêu cầu của chị K không được chấp nhận thì ông T đề nghị công nhận phần đất tranh chấp, cũng như thửa đất 2237, tờ bản đồ số 2 (tọa độ lưới là thửa đất 92, tờ bản đồ số 3) cho ông Q đứng tên sử dụng vì thực tế ông T đã bán lại cho ông Q từ lâu, thửa đất 2237 không còn thuộc sở hữu của ông T, ông T chỉ còn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp xác định phần đất này của chị K mà ông Q phải trả giá trị đất cho chị K thì ông T yêu cầu ông Q trả giá trị cho chị K theo quy định, ông T không đồng ý liền đới trả tiền cho chị K.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị Thùy L vắng mặt như có đơn xin vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ

5

án có văn bản ý kiến trình bày:

Anh N là con trai ông Q, chị L là con dâu ông Q. Trên phần đất tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị K và ông Nguyễn Văn Q có căn nhà tiền chế mái tole, vách tole, diện tích ngang 4m, dài 10m của vợ chồng anh N3 và chị L. Hiện sống trên căn nhà tiền chế này có vợ chồng anh N, chị L và 02 con Nguyễn Thị Thùy N2, sinh năm 2010 và Nguyễn Thị Mai H3, sinh năm 2011. Trước khi cất căn nhà tiền chế này thì vợ chồng anh N, chị L sống tại nhà ngay vị trí nhà tiền chế là căn nhà lá cất năm 2010. Đến năm 2015 thì vợ chồng anh N, chị L xây dựng căn nhà tiền chế như hiện nay. Thời điểm vợ chồng anh chị xây dựng nhà lá, cũng như nhà tiền chế thì không ai ngăn cản. Tại vị trí vợ chồng anh chị cất nhà thì hiện trạng đất trước đây vợ chồng anh N, chị L xây nhà là mương, có chiều dài 10m, ngang 03m, sâu khoảng 1,5m, cha anh N3 là ông Q bơm cát lấp năm 2007. Ranh đất giữa đất ông Q và chị K xác định là hàng cây gòn ranh, sau đó ông Q mới xây tường rào có đặt điểm hàng gạch cao 1m, trên có lưới B40, xây dựng năm 2007.

Nay đối với của chị K yêu cầu ông Q và ông T trả lại cho bà K phần đất lấn chiếm có diện tích ngang trước 3,5m, ngang sau 3,5m, dài 26,8m thì anh N3, chị L không đồng ý. Trong trường hợp phần đất tranh chấp này của ông Q thì vợ chồng anh N, chị L tiếp tục sử dụng. Trong trường hợp phần đất tranh chấp này của chị K thì vợ chồng anh N, chị L yêu cầu được sử dụng, vợ chồng anh N, chị L đồng ý trả giá trị đất cho chị K theo giá Hội đồng định giá tài sản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị D vắng mặt như có đơn xin vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án có văn bản ý kiến trình bày:

Anh C là con trai ông Q, chị D là con dâu ông Q. Trên phần đất tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị K và ông Nguyễn Văn Q có căn nhà tiền chế mái tole, vách tole, diện tích ngang 4m, dài 8m của vợ chồng anh C và chị D. Hiện sống trên căn nhà tiền chế này có vợ chồng anh C, chị D và 02 con Nguyễn Văn C1, sinh năm 2007 và Nguyễn Thành K1, sinh năm 2013. Trước khi cất căn nhà tiền chế này thì vợ chồng anh C, chị D sống tại nhà ngay vị trí nhà tiền chế là căn nhà lá cất năm 2012. Đến năm 2017 thì vợ chồng anh C, chị D xây dựng căn nhà tiền chế như hiện nay. Thời điểm vợ chồng anh C, chị D xây dựng nhà lá, cũng như nhà tiền chế thì không ai ngăn cản. Tại vị trí vợ chồng anh C, chị D cất nhà thì hiện trạng là đất trống, có nền củ của chị hai anh C ở trước. Ranh đất giữa đất ông Q và chị K xác định là hàng cây gòn ranh, sau đó ông Q mới xây tường rào có đặt điểm hàng gạch cao 1m, trên có lưới B40, xây dựng năm 2007.

Nay đối với của chị K yêu cầu ông Q và ông T trả lại cho bà K phần đất lấn chiếm có diện tích ngang trước 3,5m, ngang sau 3,5m, dài 26,8m thì anh C, chị D không đồng ý. Trong trường hợp phần đất tranh chấp này của ông Q thì vợ chồng

6

anh C, chị D tiếp tục sử dụng. Trong trường phần đất tranh chấp này của chị K thì vợ chồng anh C, chị D yêu cầu được sử dụng, vợ chồng anh C, chị D đồng ý trả giá trị đất cho chị K theo giá Hội đồng định giá tài sản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lệ Thị Kim A1 vắng mặt như có đơn xin vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án có văn bản ý kiến trình bày:

Nguồn gốc thửa đất 2237, tờ bản đồ số 2, diện tích 424m², đất tọa lạc ấp P, xã T, thành phố S, Đ cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T, do vợ chồng bà Kim A1, ông T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Q trước năm 2000, thời điểm nhận chuyển nhượng của ông Q là đất vườn, sau khi nhận chuyển nhượng thì vợ chồng bà Kim A1, ông T chuyển mục đích sử dụng thành đất thổ cư, sau đó vợ chồng bà Kim A1, ông T cho ông Q ở nhờ trên đất, sau một thời gian thì vợ chồng bà Kim A1, ông T bán lại thửa đất 2237 cho ông Q, nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng bà Kim Al còn đứng tên cấp hộ ông Nguyễn Văn T, còn thực tế phần đất này vợ chồng bà Kim A1, ông T đã bán lại cho ông Q, hiện ông Q và các con đã cất nhà ở. Trong thửa đất 2237 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T có tên của bà Lê Thị Kim A nhưng Kim A xác định phần đất này vợ chồng bà Kim A, ông T đã bán lại cho ông Nguyễn Văn Q nhưng chưa làm thủ tục sang tên cho ông Q. Hiện tại thửa đất 2237 này không có tài sản nào của bà Kim A, ông T trên đất.

Nay đối với việc bà K yêu cầu ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn Q trả lại cho bà K phần đất lấn chiếm có diện tích ngày 3,5m, ngang sau có diện tích 3,5m, dài 26,8m thì Kim A có ý kiến như sau: Về mặt pháp lý thì thửa đất 2237, tờ bản đố 2 thì hiện còn hộ ông Nguyễn Văn T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn trên thực tế thì vợ chồng bà Kim A, ông T đã chuyển nhượng (bán lại) cho ông Q. Do đó, trong vụ án tranh chấp giữa bà K và ông Q thì bà Kim A đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Trong vụ án này bà Kim A không có tranh chấp, yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 vắng mặt như có đơn xin vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án có văn bản ý kiến trình bày:

Nguồn gốc thửa đất 2237, tờ bản đồ số 2, diện tích 424m², đất tọa lạc ấp P, xã T, thành phố S, Đ cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T là do cha mẹ anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Q, thời điểm nhận chuyển nhượng thì anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 không biết. Thửa đất 2237 này hiện cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T, trong hộ ông T có tên anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1, nhưng anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 xác định việc nhận chuyển nượng

7

thửa đất này là do cha mẹ anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 là ông T, bà Kim A thực hiện, anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 không có đóng góp công sức, tiền bạc gì tại thời điểm cha mẹ anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 nhận chuyển nhượng của ông Q, hiện anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 cũng không có sử dụng thửa đất này. Do đó anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 thống nhất với ý kiến trình bày của cha mẹ anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1. Trong vụ án tranh chấp giữa bà K và ông Q thì anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 không có tranh chấp, yêu cầu gì, anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, anh Nguyễn Phước S, anh Nguyễn Phước N1, anh Nguyễn Phước H1 không yêu cầu gì khác.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến: Về tố tụng, thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 175, 176 Bộ luật dân sự.

Căn cứ các Điều 166, 170, 203 Luật đất đai.

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị K.

Xác định ranh giới quyền sử dụng đất của chị K và ông Q là đường thẳng nối các mốc M5 – M6 – M7 – M8 – M9 – M10 – M11 theo sơ đồ đo đạc ngày 25/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S

Về án phí: Đương sự nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết, căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về dân sự ranh giới quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối tượng tranh chấp là bất động sản tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại điểm c Khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

8

[2]. Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh N, chị L, anh C, chị D, bà Kim A, anh S, anh N1, anh H1 vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng anh N, chị L, anh C, chị D, bà Kim A, anh S, anh N1, anh H1.

[3]. Nội dung vụ án: Đối với yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị K yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất thửa đất 526 tờ bản đồ 3 của chị K với thửa đất số 2237 tờ bản đồ số 2 tọa độ lưới là thửa 92, tờ bản đồ số 3) của ông Q là đường nối từ mốc M12A-M13A-M14A-M15A-M16A-M4A. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1]. Những tình tiết, nội dung không cần phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, làm chứng cứ để giải quyết vụ án, đó là:

- Nguyên đơn chị K, bị đơn ông Q thống nhất theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2008 giữa ông Nguyễn Văn Q và bà Ngô Thị H2 đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 3 (Thửa đất số 82 sau này tách thành 02 thửa là 526 và 525, cùng tờ bản đồ số 3), nhưng thực chất có nguồn gốc là do chị Lê Thị Kim X1 chuyển nhượng cho bà Ngô Thị H2. Do, trước đây ông Q chuyển nhượng thửa đất 82 (thửa đất số 82 trước khi cấp đổi là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 2) chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn B, sau đó anh B chuyễn nhượng lại cho chị Nguyễn Thị Kim X, sau đó chị X chuyển nhượng thửa đất này cho bà Ngô Thị H2 (chị X là con bà H2), nhưng do thời điểm ông Q chuyển nhượng thửa đất số 82 cho anh B, anh B, chuyển nhượng đất cho chị X, chị X chuyển nhượng đất cho bà H2, các bên không có làm hợp đồng chuyển nhượng, không có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất này ông Q còn đứng tên. Sau khi chị X chuyển nhượng đất cho bà H2 thì ông Q mới cấp đổi thửa đất số 97 thành thửa đất số 82, sau khi ông Q đứng tên thửa đất 82 này thì ông Q mới làm hợp đồng chuyển nhượng sang tên cho bà H2. Sau khi bà H2 đứng tên dến năm 2016 bà H2 tách thành 02 thửa đất số 525 và 526, sau đó bà H2 tặng cho chị K thửa đất số 526, tờ bản đồ số 3.

- Đối với thửa đất số 2237, tờ bản đồ số 2 (tọa độ lưới là thửa đất 92, tờ bản đồ số 3), đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S do ông Nguyễn Văn Q chuyển nhượng cho ông T, thời điểm nhận chuyển nhượng của ông Q là đất vườn, sau khi nhận chuyển nhượng thì ông T chuyển mục đích sử dụng thành đất thổ, sau đó ông T cho ông Q ở nhờ trên đất, sau đó ông Q có trả tiền, nhận chuyển nhượng lại thửa đất 2237 này. Hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 2237, tờ bản đồ số 2 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T. Đối với thửa đất 2237, tờ bản đồ số 2 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T nhưng trên thực tế thửa đất này ông T đã chuyển nhượng lại cho ông Q, hiện tại ông Q đang quản lý, sử dụng, ông T không có quản lý, sử dụng hay có tài sản gì trên đất.

9

[3.2]. Phía nguyên đơn cho rằng thời điểm chuyển nhượng là chuyển nhượng nguyên thửa đất số 82, diện tích 578,7m², còn trên thực địa thì ông Q xác định ranh đất của thửa đất số 82 từ hàng rào cây gòn (nay là hàng rào B40) trở về đất bà H2, chị K đang quản lý, sử dụng hiện tại. Còn ông Q xác định ranh đất giữa thửa đất ông Q quản lý, sử dụng và thửa đất của chị khai là theo hàng rào lưới B40 (các mốc M5-M6-M7-M8-M9-M10-M11). Nguyên đơn trình bày nhưng không cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình.

Tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp...”

Qua thu thập tài liệu, cũng như lời trình bày của đương sự thì thửa đất số 82, tờ bản đồ số 3 có nguồn gốc là của ông Q, bà H2 nhận chuyển nhượng trực tiếp từ chị X, không nhận chuyển nhượng trực tiếp từ ông Q, do thời điểm chuyển nhượng chị X chưa được cấp giấy chứng nhận, do giấy này ông Q có đứng tên nên bà H2 mới yêu cầu ông Q cấp đổi đất, sau khi cấp đổi thành thửa đất số 82 thì ông Q làm thủ tục chuyển nhượng cho bà H2. Mặt khác, thửa đất số 82 này có nguồn gốc là thửa 97, tờ bản đồ số 2, diện tích trước cấp đổi là 65,5m², sau khi cấp đổi mới thành dện tích 578,7m².

[3.3]. Mặt khác, qua xem xét, thẩm định tại chỗ và xác minh thu thập chứng cứ, thể hiện diện tích thửa đất 526 của chị K qua đo đạc thực tế chưa tính phần đất đang tranh chấp có diện tích là 91,5m², cụ thể tại Hình 2 diện tích 78,2m² gồm các mốc M5 - M4 - M16 - M15 - M14 - M13 - M13 - M12 - M11 - M10 - M9 - M8 - M7 - M6 - M5 - M4 và Hình 1A diện tích 13,3m² gồm các mốc M4 - M4A - M16A - M15A - M14A - M13A - M12A - M12 - M13 - M14 - M15 - M16 - M4 thì thửa đất 526 của chị K có diện tích là 205,4m², tăng 3m² so với diện tích được cấp quyền sử dụng. Trong khi đó, thửa đất 2237 của ông Q qua đo đạc thực tế có diện tích là 386,9m², giảm 37,1m² so với diện tích được cấp quyền sử dụng. Đồng thời, qua đối chiếu sơ đồ đo đạc đất tranh chấp xác nhận nagy2 25/9/2024 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 526, tờ bản đồ số 3 (tọa độ lưới) xác định chiều rộng cạnh phía trước và chiều rộng cạnh phía sau thửa đất số 526 của chị K cùng có chiều dài 7,5m, trong khi đó theo sơ đồ đạc, chiều rộng cạnh phía trước có chiều dài 7,64m và chiều rộng cạnh phía sau có chiều dài là 7,61m. Nguyên đơn khởi kiện cho rằng thửa đất số 526 của chị K còn thiếu nhưng qua đo đạc thì thửa đất 526 của Khai hiện đang sử dụng có diện tích nhiều hơn diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[3.4]. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng đất, ông Q xây dựng tường rào B40 xác định định ranh đất phần đất của ông Q quản lý, sử dụng và các con ông Q là

10

anh Nguyễn Văn C và anh Nguyễn Văn N cất nhà trên đất thì gia đình chị K cũng không có ngăn cản, tranh chấp. Đồng thời, qua xác minh thu thập chứng cứ thì Ủy ban nhân dân thành phố S cũng không xác định được phần đất tranh chấp tại Hình 2 diện tích 78,2m² và Hình A có diện tích 13,3m² thuộc thửa đất của chị K hay ông Q đang sử dụng.

Từ những căn cứ nêu trên, cần giữ nguyên hiện trạng đất tranh chấp giữa chị K và ông Q, vì như vậy mới đảm bảo quá trình sử dụng ổn định của các thửa đất, đảm bảo quyền lợi của chị K và ông Q. Trên cơ sở đó xác định ranh giới giữa thửa đất số 526 của chị K với thửa đất số 2237 của ông Q (ông Q nhận chuyển nhượng của ông T nhưng chưa sang tên) là đường thẳng nối từ các mốc M5-M6-M7-M8-M9-M10-M11 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 25/9/2024 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.

[4]. Đối với thửa đất số 2237, tờ bản đồ số 2 (tọa độ lưới là thửa đất 92, tờ bản đồ số 3), có nguồn gốc là do ông Nguyễn Văn Q chuyển nhượng cho ông T, trong quá trình sử dụng đất thì ông T đã chuyển nhượng lại cho ông Q, ông Q đã thanh toán xong tiền chuyển nhượng cho ông T, nhưng chưa làm thủ tục sang tên cho ông Q đứng tên, hiện ông Q đang quản lý, sử dụng thửa đất này, ông T không có sử dụng thửa đất này. Trong vụ án này ông Q, ông T không có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Trong trường hợp các bên có tranh chấp có quyền yêu cầu giải quyết bằng vụ kiện khác.

[5]. Đối với ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, nên nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[7]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 158, 165, 166, 228, 264, 271, 273, 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 169, 175 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 166, 203 Luật đất đai 2013;

Căn cứ các Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

11

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị K.

Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 526, tờ bản đồ 3 của chị Nguyễn Thị K với thửa đất số 2237, tờ bản đồ số 2 (tọa độ lưới là thửa đất số 92, tờ bản đồ số 3) hộ ông Nguyễn Văn T đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hiện ông Q đang sử dụng thửa đất 2237, do ông Q đã nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T); đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, được xác định lại là đường nối từ các mốc M5-M6-M7-M8-M9-M10-M11 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 25/9/2024 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.

Ranh đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian đến lòng đất. Trên cơ sở xác định ranh đất như trên, tài sản bên nào lấn chiếm ranh đất phải được di dời theo quy định pháp luật.

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp đổi, đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

(Kèm theo là biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/5/2024 và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 25/9/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S).

2. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị K phải chịu 300.000 án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004099 ngày 02/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.

3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Chị Nguyễn Thị K phải chịu 1.600.000đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (Chị K đã nộp và chi xong).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

12

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND TP. Sa Đéc;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP. Sa Đéc;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuấn Em

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về dân sự ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 119/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger