|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1188/2024/HC-PT
Ngày: 05 - 11 - 2024
V/v: Khiếu kiện QĐXLVPHC về QLNN trong lĩnh vực xây dựng, thuộc trường hợp xử phạt vi phạm hành chính và cưởng chế xử lý vi phạm hành chính.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Thúy Hồng
2/ Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong các ngày 29/10/2024 đến ngày 05/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hành chính phúc thẩm, thụ lý số 548/2022/TLPT-HC ngày 10/3/2022, về việc: “Khiếu kiện, quyết định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về xây dựng thuộc trường hợp xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế xử lý vi phạm hành chính”, giữa các bên đương sự:
- Người khởi kiện: Công ty Cổ phần Đ; Trụ sở: Số A T, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Ông Nguyễn Xuân L (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện:
1/ Luật sư Phan Trung H, Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).
2/ Luật sư Đặng Kim C, Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).
- Người bị kiện:
1/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H; Địa chỉ: H L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Có văn bản xin xét xử vắng mặt); Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H: Ông Nguyễn Văn C1, Phó Trưởng phòng pháp chế Sở Xây dựng Thành phố H; Địa chỉ: F T, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh ( Có mặt).
2/ Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H; Địa chỉ: F T, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H: Ông Trương Công N, Phó Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H; Địa chỉ: F T, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh ( Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Sở Quy hoạch - Kiến trúc Thành phố H; Địa chỉ: A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trương Quang Thục T, Trưởng phòng Quản lý quy hoạch Khu vực I, Sở Quy hoạch - Kiến trúc Thành phố H; Ông Huỳnh Hoàng V, Chuyên viên Phòng Quản lý quy hoạch Khu vực I - Sở Quy hoạch - Kiến trúc Thành phố H ( vắng mặt).
2/ Sở Xây dựng Thành phố H; Địa chỉ: F T, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có văn bản xin xét xử vắng mặt); Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Sở Xây dựng Thành phố H: Ông Phạm Kim B, Phó Trưởng phòng cấp phép, Sở Xây dựng Thành phố H ( Có mặt).
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Công ty Cổ phần Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai của phía người khởi kiện trình bày:
Người khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận các yêu cầu sau:
Hủy Quyết định số 370/QĐ-XPVPHC ngày 21/02/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Cổ phần Đ.
Hủy Quyết định số 1500/QĐ-XPVPHC ngày 18/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng đối với Công ty Cổ phần Đ.
Hủy Quyết định số 2399/QĐ-CCXP ngày 20/9/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với Công ty Cổ phần Đ.
Hủy Quyết định cưỡng chế số 2736/QĐ-CCXP ngày 03/8/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H.
Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại cho người khởi kiện theo hướng Hủy Văn bản số 1452/SQHKT ngày 25/4/2016 và Văn bản số 3045/SQHKT-TTr ngày 28/6/2018 của Sở Quy hoạch Kiến trúc và yêu cầu Sở Quy hoạch - Kiến trúc xem xét xác định lại, đề xuất về chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc tại số nhà H T, báo cáo thông qua Hội đồng Kiến trúc – Quy hoạch và trình Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét quyết định.
Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại cho người khởi kiện theo hướng được áp dụng các chỉ tiêu kiến trúc nhà liền kề tại một phần Quyết định 135/2007/QĐ-UBND, Quyết định 45/2009/QĐ-UBND và Quyết định 3457/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố H về quản lý không gian kiến trúc để xác định lại chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc đối với công trình số 08 Trương Định như sau:
- + Công trình dân dụng cấp II;
- + Chiều cao lùi vào so với chỉ giới xây dựng 2,5 m: 34,5 m;
- + Chiều cao toàn công trình 36 m;
- + Mật độ xây dựng là 80%;
- + Hệ số sử dụng đất khoảng 8,8;
- + Diện tích sàn xây dựng: 83,58 m²;
- + Tổng diện tích xây dựng: 1.145 m²;
- + Số tầng: hầm, trệt (tầng 1), lửng, 9 tầng, tum, tầng áp mái lợp tôn.
Lý do khởi kiện :
Công trình xây dựng Văn phòng làm việc tại số H T, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh do Công ty Đ làm chủ đầu tư được Sở Xây dựng cấp Giấy phép xây dựng số 10/GPXD ngày 12/01/2017 trên thửa đất số 75, tờ bản đồ số 17, Bộ địa chính Phường F, Quận C. Loại công trình dân dụng, cấp II, diện tích xây dựng 77,9 m², tổng diện tích sàn xây dựng 580 m². Tầng cao công trình 27m. Mật độ xây dựng 66,1%. Hệ số sử dụng đất : 4,0 lần.
Sau khi được cấp giấy phép xây dựng, công ty đã có nhiều đơn kiến nghị, đơn cứu xét, đơn khiếu nại để xem xét về chiều cao, mật độ xây dưng, hệ số sử dụng đất cho công trình số 08 T.
Trước đó, ngày 25/4/2016, Sở Quy hoạch và Kiến trúc có Công văn số 1452/SQHK-QHKTTT với nội dung : Căn cứ theo quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị (quy hoạch phân khu) tỷ lệ 1/2000 Khu trung tâm thành phố hiện hữu mở rộng (diện tích 930 ha) được Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt tại Quyết định số
6708/QĐ-UBND ngày 29/12/2012; Quy chế quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị Khu trung tâm Thành phố hiện hữu mở rộng (diện tích 930 ha) được Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành tại Quyết định số 3457/QĐ-UBND ngày 28/6/2013, Sở Q có ý kiến hướng dẫn: Hệ số sử dụng đất : 4,0 lần, Mật độ xây dựng 70%, Cao độ chuẩn tại chỉ giới xây dựng : + 25m, Cao độ tối đa công trình : +27 m, Tầng cao tối đa : 08 tầng (theo QCXD 03:2013/BXD) gồm tầng trệt, tầng lửng, 5 lầu và tầng sân thượng có mái che.
Ngày 28/5/2018, Công ty Đ có đơn khiếu nại về chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc. Ngày 28/6/2018, Sở Q có Văn bản số 3045/SQHKT-TTR với nội dung :
- + Về chiều cao công trình, căn cứ Quyết định số 3457/QĐ-UBND ngày 28/6/2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố về duyệt quy chế quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị Khu trung tâm hiện hữu Thành phố (Quy chế 930 ha) thì khu đất số 08 Trương Định chỉ thỏa mãn điều kiện chiều cao công trình tối đa chỉ giới xây dựng đạt 25m.
- + Về mật độ xây dựng, căn cứ Quy chế 930 ha thì khu đất số H T có mật độ xây dựng 70%.
- + Về kiến nghị các chỉ tiêu quy hoạch, kiến trúc: Áp dụng Quyết định số 3457/QĐ-UBND ngày 28/6/2013 và một phần Quyết định số 135/2007/QĐ-UBND ngày 08/12/2007, Quyết định số 45/2009/QĐ-UBND ngày 03/7/2009 của UBND Thành phố H về kiến trúc nhà liên kế trong khu đô thị hiện hữu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thì khu đất số 08 T thuộc phạm vi áp dụng của đồ án 930 ha và quy chế 930 ha.
Ngày 28/8/2018, Văn phòng Ủ có Thông báo số 529/TB-VP có ý kiến kết luận : Giao cho Sở Quy hoạch – Kiến trúc căn cứ đồ án quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/200 và quy chế quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị Khu Trung tâm hiện hữu thành phố (930 ha) đã được phê duyệt, đề xuất về chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc tại số nhà S T, báo cáo thông qua Hội đồng kiến trúc – Quy hoạch Thành phố theo quy định và trình Ủy ban nhân dân Thành phố trước ngày 07/9/2018. Tuy nhiên đến nay, Sở Quy hoạch – Kiến trúc vẫn không thực hiện kết luận nêu trên. Ủy ban nhân dân Thành phố H vẫn chưa ban hành quyết định giải quyết khiếu nại cho Công ty Đ.
Do không được giải quyết khiếu nại, kiến nghị nên trong quá trình thi công công trình số 08 T thì Công ty Đ đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo các Quyết định số 370/QĐ-XPVPHC ngày 21/02/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng và Quyết định số 1500/QĐ-XPVPHC ngày 18/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H.
Công ty Đ không đồng ý với các quyết định xử phạt này, bởi lẽ :
Việc Công ty Đ vi phạm hành chính có căn nguyên, hậu quả từ việc không
được giải quyết kịp thời theo các kiến nghị, khiếu nại của công ty về chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc quy định tại Điều 56 Luật Quy hoạch và Điều 164 Luật Xây dựng.
Ngày 28/5/2018, Công ty Đ có đơn khiếu nại gửi đến Sở Quy hoạch kiến trúc khiếu nại về các chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc. Tuy nhiên, Sở Quy hoạch - Kiến trúc ban hành Văn bản số 3045/SQHKT-TTR ngày 28/6/2018 không đúng quy định về hình thức trả lời khiếu nại; Về nội dung, Văn bản số 3045/SQHKT-TTR đã căn cứ vào Quyết định số 5169/QĐ-UBND ngày 27/10/2011, Quyết định số 6708/QĐ-UBND ngày 29/12/2012 và Quyết định số 3457/QĐ-UBND ngày 28/6/2013 Ủy ban nhân dân Thành phố H là không phù hợp. Bởi lẽ các quyết định được căn cứ không phải là văn bản quy phạm pháp luật (theo Văn bản số 651/KTRVB-KT ngày 19/11/2018 của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật)
- + Văn bản số 3045/SQHKT-TTR không căn cứ vào Quyết định số 135/2007/QĐ-UBND ngày 08/12/2007 và Quyết định 45/2009/QĐ-UBND ngày 03/7/2009 của Ủy ban nhân dân Thành phố H để áp dụng đối với công trình số H T là bất lợi cho Công ty Đ. Lẽ ra trường hợp này phải vận dụng hai quyết định nói trên. Điều 3 Quy chế 930 cũng nêu rõ : « Nhà liên kế là dạng công trình liền kề được quy định chung tại Luật Xây dựng, tại Quyết định số 135/2007/QĐ-UBND ». Do dó, Sở Q cho rằng Công trình số 08 Trương Định không thuộc trường hợp điều chỉnh của hai quyết định nêu trên là chưa phù hợp.
- + Văn bản số 3045/SQHKT-TTR cũng nói rõ rằng: “Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/200 được phê duyệt vào tháng 3/2013 đến nay đã hơn 5 năm, trong quá trình áp dụng đồ án và quy chế quản lý vào thực tế còn một số bất cập cần điều chỉnh, chỉnh sửa cho phù hợp...Hiện nay, Sở Quy hoạch – Kiến trúc đang phối hợp với Sở ngành, quận huyện liên quan rà soát các nội dung bất cập để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét điều chỉnh cho phù hợp ». Như vậy, theo người khởi kiện, việc xác định chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc đối với Công trình số 08 T cũng cần phải xem xét lại vì thực tiễn đã có sự bất cập, không phù hợp.
Về chiều cao công trình, thì Sở Quy hoạch – Kiến trúc xác định khu đất số H T, chỉ thỏa mãn 1/3 điều kiện theo quy chế 930 ha, chiều cao công trình tối đa tại chỉ giới xây dựng đạt 25m. Tuy nhiên, theo Điều 8.1 Quyết định số 135/2007/QĐ-UBND đã quy định rằng : « Trường hợp ít nhất một trong hai lô đất bên cạnh đã xây dựng với tầng cao vượt quá quy định ở cột 2 Bảng 2 thì tầng cao tối đa của công trình trên lô đất đó có thể được cộng thêm các yêu tố ưu tiên ở cột (3) và (4) Bảng 2 (nếu có) và không cao hơn tầng cao của công trình bên cạnh. ». Thực tế, hai công trình bên cạnh là số 6 Trương Định có chiều cao khoảng 38 m, công trình số 10 Trương Định có chiều cao khoảng 35 m, Công trình 14 Trương định có chiều cao 40 m. Như vậy công trình số 08 T vẫn được xem xét cộng thêm 02 tầng và đảm bảo chiều cao vẫn thấp hơn 02 công trình bên cạnh.
Theo Điều 1.4.4 Quy chuẩn xây dựng số 04/2008 ngày 03/4/2008 đã quy định: Chiều cao công trình phù hợp với cấu trúc không gian quy hoạch. Tại Điều 2.8.2 quy định về thiết kế đô thị phải đáp ứng yêu cầu đảm bảo mối tương quan chiều cao các công trình lân cận, quy định chính xác tầng cao tối đa và tầng cao tối thiểu, hoặc không khống chế về chiều cao xây dựng. Theo TCVN số 9411 : 2012 về nhà liên kế quy định: Khi thiết kế xây dựng mới hoặc cải tạo nhà liên kế hai bên tuyến đường đô thị phải hài hòa với tổng thể kiến trúc tuyến phố và phải bảo đảm mỹ quan riêng của công trình; Khi thiết kế mặt đứng cho một dãy nhà ở liên kế mặt phố cần đảm bảo nguyên tắc sau: Có số tầng và cao độ các tầng như nhau trong một dãy nhà. Trong trường hợp dãy nhà liên kế có khoảng lùi thì cho phép tăng chiều cao công trình theo chiều cao tối đa được duyệt trong quy hoạch xây dựng, quy định về kiến trúc, cảnh quan của khu vực.
Như vậy, công trình số 08 T cần được xem xét chấp thuận tăng thêm về độ cao và số tầng quy định. Mặt khác, trong trường hợp xem xét áp dụng Quy chế 930 ha, Công trình số 08 T được xác định tại Ô phố Z5 có chiều cao tối đa là 50 m, nay Công ty 3H chỉ xin chỉ tiêu về độ cao là 36 m, thấp hơn các công trình kế cận hiện hữu, bảo đảm tương đồng, hài hòa tuyến phố.
Về chỉ tiêu mật độ xây dựng, Văn bản số 3045/SQHKT-TTR xác định định khu đất số H T có mật độ xây dựng là 70%. Tuy nhiên:
- + Theo Điều 2.8.6 Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03/4/2008 thì mật độ xây dựng nhà liên kế thì : “Với diện tích 100 m² là 80%, diện tích 200 m² là 70%.
- + Tại Điều 2.8.6.3: Đối với công trình có chức năng hỗn hợp sau khi trừ khoảng lùi, theo quy định tại mục 2.8.5 trên phần đất còn lại cho phép mật độ xây dựng là 100%. Nhà liên kế phá đi xây lại: Mật độ xây dựng theo điều 2.8.6.
- + Theo Điều 2.7.6: Chiều cao xây dựng trên mặt đất 25m thì mật độ xây dựng là 80%.
Mặt khác, đối chiếu với quy chế 930 ha cũng cho phép đối với diện tích lô đất dưới hoặc bằng 200 m² thì mật độ xây dựng cũng được xác định tối đa là 80%.
- + Theo Quyết định số 6708/QĐ-UBND ngày 29/12/2012 thì nghiêm cấm tiến hành đầu tư xây dựng bằng cách giả định hoặc áp dụng chỉ tiêu cho toàn ô phố. Vì vậy, việc Sở Quy hoạch Kiến trúc cho phép mật độ xây dựng Công trình số 08 Trương Định với chỉ tiêu 70% là chỉ tiêu cho từng ô phố, vi phạm điều cấm của quyết định.
Như vậy, công trình số 08 T có căn cứ để xem xét xác định chỉ tiêu về mật độ xây dựng là 80%.
Về chỉ tiêu hệ số sử dụng đất, Văn bản số 3045/SQHKT-TTR đã căn cứ Điều
6 Quy chế 930 ha, rà soát 8 điều kiện không thỏa được điều kiện nào về yếu tố cộng thêm hệ số sử dụng đất, do đó, chưa đủ điều kiện để đề xuất Hội đồng Quy hoạch – Kiến trúc thông qua việc tăng hệ số sử dụng đất. Nội dung này cần được xem xét lại, bởi lẽ:
Theo Điều 90 Luật Xây dựng, Quyết định 135/2007/QĐ-UBND và Quyết định 45/2009/QĐ-UBND quy định về kiến trúc nhà liên kế cũng không đề cập đến hệ số sử dụng đất và mật độ xây dựng, chỉ yêu cầu khoảng lùi và độ cao.
Theo quy chế 930 ha thì hệ số sử dụng đất tối đa cho ô phố Z5 là 4.0 nhưng có xác định thêm trong trường hợp đáp ứng được các điều kiện ưu tiên quy định. Tổng hệ số sử dụng đất không quá 10. Do đó, cần áp dụng quy định pháp luật có hiệu lực hiện hành, phù hợp lợi ích cho doanh nghiệp, điều chỉnh tăng hệ số sử dụng đất cho Công ty Đ (từ 4.0 lên 8.0).
Công ty Đ xác định có xây dựng sai phép nhưng đủ điều kiện để điều chỉnh giấy phép xây dựng, đủ điều kiện tồn tại công trình theo đúng quy định của pháp luật.
- - Về việc xin điều chỉnh giấy phép xây dựng, quá trình thi công Công trình số 08 T từ tháng 01/2016 đến tháng 10/2017, công ty đã nhiều lần xin điều chỉnh giấy phép xây dựng nhưng không được giải quyết.
- - Về trình tự ban hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thủ tục lập biên bản vi phạm, thủ tục ban hành quyết định cũng chưa bảo đảm pháp lý.
- + Công ty 3H vẫn chưa được thực hiện quyền giải trình đối với Quyết định số 1500/QĐ-XPVPHC của Chủ tịch UBND Thành phố H trong khi đã có nhiều lần đề nghị, xem xét, xin được gặp giải trình trực tiếp nhưng chưa được tiếp nhận giải quyết.
- + Quyết định 1500/QĐ-XPVPHC ngày 18/04/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H được ban hành dựa trên Biên bản vi phạm hành chính 1715/BB-VPHC ngày 05/04/2019 được lập tại trụ sở Thanh tra Sở Xây dựng. Đồng thời Biên bản 1715/BB-VPHC căn cứ vào Biên bản làm việc ngày 05/04/2019 của U, Quận C. Như vậy, Biên bản vi phạm hành chính không phải do Thanh tra xây dựng kiểm tra, ghi nhận thực tế hiện trạng phần diện tích vi phạm, Công ty Đ cũng không được cung cấp Biên bản làm việc của U, Quận C trong quá trình làm việc, giải quyết để thực hiện quyền giải trình.
- + Quyết định 1500/QĐ-XPVPHC áp dụng khoản 8, điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP là không đúng căn cứ pháp lý dẫn đến xác định sai về thẩm quyền ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Cùng một hành vi được xác định là vi phạm, nhưng lại tách ra để xử lý bằng hai quyết định. Công ty Đ vẫn chưa nhận được quyết định giải quyết khiếu nại,
kiến nghị về chỉ tiêu quy hoạch cho công trình số 08 Trương Định theo đúng quy định của pháp luật.
Hành vi vi phạm của Công ty Đ phải được coi là “hành vi vi phạm mới”. Đồng thời để có căn cứ ban hành quyết định xử phạt, phải chứng minh được hành vi “Đổ bê tông các lỗ thông tầng; Đổ bê tông thêm các tầng 9,10,11; lắp dựng thang máy tại vị trí lỗ thông tầng” trong Quyết định 1500/QĐ-XPVPHC so với Quyết định 370/QĐ-XPVPHC với các hành vi: “Lắp dựng hệ kết cấu thép; ván tổng hợp; bít các lỗ thông tầng (chưa đổ bê tông); lắp ghép thêm tầng 9,10,11 và tầng áp mái (chưa đổ bê tông)”, tương ứng với diện tích sàn vi phạm là bao nhiêu, bởi vì diện tích vi phạm trong hai Quyết định xử phạt đều cùng vị trí, diện tích sàn, nhưng diện tích sàn được xác định vi phạm trong Quyết định 1500 nhỏ hơn Quyết định 370.
Theo Văn bản và lời khai của phía người bị kiện Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H trình bày:
Công trình xây dựng văn phòng làm việc tại địa chỉ số H T, Phường F, Quận C thi công theo Giấy phép xây dựng số 10/GPXD ngày 12/01/2017 của Sở Xây dựng cấp, với quy mô: 01 hầm + 08 tầng, tổng diện tích sàn xây dựng 580 m² do Công ty Cổ phần Đ làm chủ đầu tư.
Do tổ chức thi công xây dựng sai giấy phép nên ngày 15/02/2019, Thanh tra Sở Xây dựng phối hợp Ủy ban nhân dân Phường F, Quận C lập Biên bản vi phạm hành chính số 00001842/BB-VPHC đối với Công ty Cổ phần Đ về hành vi “tổ chức thi công xây dựng công trình có yêu cầu phải lập dự án đầu tư xây dựng sai nội dung giấy phép xây dựng được cấp đối với trường hợp cấp phép xây dựng mới; quy định tại Điểm c, Khoản 4, Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP của Chính phử”, cụ thể: Chủ đầu tư đã xây dựng tăng diện tích sàn và tăng số tầng công trình sai so với Giấy phép xây dựng số 10/GPXD ngày 12/01/2017 của Sở Xây dựng cấp như sau:
- - Bít các lỗ thông tầng với diện tích vi phạm:
- + Tầng 2,3,4,5 (trục 2-3/A-B) : (3m x 3m) x 4 = 36 m²
- + Tầng 6,7,8 (trục 2-4/A-B) : (3m x 10,5m) x 3 = 94,5 m²
- - Lắp dựng thêm các tầng 9, 10, 11 và tầng áp mái (chưa đổ bê tông) với diện tích vi phạm:
- + Tầng 9: (4,2m x 21,4m) – (6m x 4,2m) = 64,26 m²
- + Tầng 10, 11 và tầng áp mái: [(4,2m x 21,4m) – (2,4m x 2,85m)] x 3 = 249,12 m².
Kết cấu: Khung thép, ván tổng hợp (tấm smartboard).
Ngày 21/02/2019, Chánh Thanh tra Sở Xây dựng đã ban hành Quyết định số 370/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Cổ phần Đ do đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính nêu trên và buộc Công ty Cổ phần Đ dừng thi công xây dựng, làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy phép xây dựng.
Ngày 5/4/2019, Đội Thanh tra cơ động – Thanh tra Sở Xây dựng tiếp tục lập Biên bản vi phạm hành chính số 0001715/BB-VPHC đối với Công ty Cổ phần Đ về hành vi: Đã bị lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 4 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP của Chính phủ. Cụ thể:
Đã bị Đội Thanh tra cơ động – Thanh tra Sở Xây dựng lập Biên bản vi phạm hành chính số 00001842/BB-VPHC ngày 15/02/2019 do tổ chức thi công xây dựng công trình có yêu cầu phải lập dự án đầu tư xây dựng sai nội dung giấy phép xây dựng được cấp đối với trường hợp cấp phép xây dựng mới mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm làm phát sinh các hạng mục vi phạm:
- - Đổ bê tông bít các lỗ thông tầng với diện tích vi phạm:
- + Tầng 3,4,5 (trục 2-3/A-B) : (3m x 3m) x 3 = 27 m²
- + Tầng 6,7,8 (trục 2-4/A-B) : (3m x 10,5 m) = 94,5 m².
- - Đổ bê tông thêm các tầng 9,10,11 với diện tích vi phạm:
- + Tầng 9: (4,2m x 21,4m) – (6m x 4,2m) = 64,26 m².
- + Tầng 10, 11: [(4,2m x 21,4m) – (2,4m x 2,85m)] x 2 = 166,08 m².
- - Lắp dựng thang máy tại vị trí lỗ thông tầng (trục 1-2/A-B).
Với hành vi vi phạm này, ngày 17/4/2019, Sở Xây dựng có Báo cáo số 4533/BC-SXD-TT đề nghị Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Cổ phần Đ theo thẩm quyền.
Ngày 18/4/2019, Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 1500/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng đối với Công ty Cổ phần Đ do đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: “Đã bị lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 4 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ đối với xây dựng công trình có yêu cầu lập dự án đầu tư xây dựng mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm”.
Ngày 09/8/2019, Chánh Thanh tra Sở Xây dựng đã ban hành Thông báo số 6325/TB-TT-TTCDD4 về việc thực hiện biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm theo nội dung Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 370/QĐ-XPVPHC.
Ngày 20/9/2019, Chánh Thanh tra Sở Xây dựng đã ban hành Quyết định số 2399/QĐ-CCXP cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả để thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 370/QĐ-XPVPHC.
Việc xử lý công trình vi phạm đối với Công ty Cổ phần Đ của Thanh tra Sở Xây dựng và Ủy ban nhân dân Thành phố là phù hợp và đảm bảo theo quy định pháp luật. Trước khi ban hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì Sở Xây dựng đã có các Văn bản số 8063/SXD-TT ngày 03/7/2019 và Văn bản số 17352/SXD-CPXD ngày 06/11/2017 về việc trả lời yêu cầu điều chỉnh giấy phép xây dựng của Công ty Đ; Sở Quy hoạch kiến trúc cũng đã có các Văn bản số 1452/SQHKT-QHKTT ngày 25/4/2018 và Văn bản số 3045/SQHKT-TTR ngày 28/6/2018 về việc trả lời yêu cầu điều chỉnh các chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc cho Công ty Đ. Sau khi ban hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì cũng không nhận được yêu cầu điều chỉnh giấy phép xây dựng của Công ty Đ.
Về quyền giải trình của người bị xử phạt vi phạm hành chính thì pháp luật có quy định người bị xử phạt vi phạm hành chính có quyền giải trình, việc xem xét có chấp nhận giải trình đó hay không thì thuộc thẩm quyền của người ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Trong hồ sơ vụ việc này thì thấy rằng, Công ty Đ có giải trình thì cũng không có cơ sở để xem xét chấp nhận.
Về việc người khởi kiện đề nghị áp dụng các chỉ tiêu về nhà liên kế, tuy nhiên, căn cứ giấy phép xây dựng đã cấp cho Công ty Đ thì công trình số 08 Trương Định là văn phòng làm việc, không phải là nhà liên kế. Do đó, không có cơ sở xem xét yêu cầu của người khởi kiện.
Người bị kiện đề nghị không chấp nhận các yêu cầu của người khởi kiện.
Theo Văn bản và lời khai của phía người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H trình bày:
Ngày 18/4/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H đã ban hành Quyết định số 1500/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng đối với Công ty Cổ phần Đ do đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Đã bị lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 4 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ đối với xây dựng công trình có yêu cầu lập dự án đầu tư xây dựng mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm, với các nội dung sau:
- Hình thức xử phạt chính: Áp dụng Điểm c Khỏan 8 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ;
Phạt tiền với mức phạt 325.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng).
- Hình thức phạt bổ sung: Không.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Áp dụng Khoản 12 và Khoản 13 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ;
Buộc dừng thi công xây dựng công trình số H T, Phường F, Quận C. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày 15/02/2019 (ngày lập Biên bản vi phạm hành chính số 0001842/BB-VPHC), tổ chức vi phạm phải làm thủ tục đề nghị Sở Xây dựng điều chỉnh giấy phép xây dựng và xuất trình giấy phép xây dựng được điều chỉnh cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố (xuất trình trực tiếp cho Sở Xây dựng, Thanh tra Sở, Đội Thanh tra cơ động). Nếu tổ chức vi phạm không thực hiện được thì buộc tháo dỡ phần công trình xây dựng vi phạm, cụ thể:
- - Phần diện tích vi phạm tại các lỗ thông tầng:
- + Tầng 3,4,5 (trục 2-3/A-B) : (3m x 3m) x 3 = 27 m²
- + Tầng 6,7,8 (trục 2-4/A-B) : (3m x 10,5 m) = 94,5 m².
- - Phần diện tích vi phạm các tầng 9, 10, 11:
- + Tầng 9: (4,2m x 21,4m) – (6m x 4,2m) = 64,26 m2.
- + Tầng 10, 11: [(4,2m x 21,4m) – (2,4m x 2,85m)] x 2 = 166,08 m².
- - Phần thang máy tại vị trí lỗ thông tầng (trục 1-2/A-B).
Sau khi được điều chỉnh giấy phép xây dựng, phần công trình đã xây dựng không phù hợp với giấy phép xây dựng thì tổ chức vi phạm phải tháo dỡ phần công trình đó mới được tiếp tục thi công xây dựng công trình.
Do Công ty Cổ phần Đ có hành vi vi phạm đã bị lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 4 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP đối với công trình có yêu cầu phải lập dự án đầu tư xây dựng mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm, quy định tại Điểm c Khoản 8 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP, có mức phạt bằng tiền đối với hành vi vi phạm nêu trên là từ 300.000.000 đồng đến 350.000.000 đồng.
Căn cứ Khoản 4 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó và căn cứ Khoản 3, Điều 4 của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP thì mức phạt tiền hành vi vi phạm nêu trên là mức phạt đối với tổ chức. Như vậy, mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm nêu trên của tổ chức vi phạm là 325.000.000 đồng.
Căn cứ Điều 73, Điều 77 và Điều 78 Nghị định 139/2017/NĐ-CP với mức xử phạt bằng tiền nêu trên không thuộc thẩm quyền xử phạt của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng cũng như của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện mà thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng số 1500/QĐ-XPVPHC ngày 18/4/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố đối với Công ty Cổ phần Đ là đúng hành vi vi phạm, đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của Công ty Đ là không có cơ sở để chấp nhận.
Theo Văn bản và lời khai của phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Quy hoạch và Kiến trúc Thành phố H trình bày:
Căn cứ pháp lý để áp dụng tại số H T là: Quyết định số 6708/QĐ-UBND ngày 29/12/2012 của Ủy ban nhân dân Thành phố về duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 (quy hoạch phân khu) khu trung tâm hiện hữu Thành phố H (930 ha); Quyết định số 3457/QĐ-UBND ngày 28/6/2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố về duyệt Quy chế quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị Khu trung tâm hiện hữu Thành phố H (930 ha); Quyết định số 29/2014/QĐ-UBND ngày 29/8/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị chung Thành phố H.
Việc Công ty Đ yêu cầu hủy bỏ Văn bản số 1452/SQHKT-QHKTT ngày 25/4/2016, Văn bản số 3045/SQHKT-TTR ngày 28/6/2018 của Sở Quy hoạch Kiến trúc là không có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ:
- - Văn bản số 1452/SQHKT-QHKTT ngày 25/4/2016 của Sở Quy hoạch - Kiến trúc có ý kiến về quy hoạch sử dụng đất (mục đích sử dụng công trình, các chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc) tại số H T, Phường F, Quận C, tuân thủ đồ án quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 và Quy chế quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị Khu trung tâm hiện hữu Thành phố H (930 ha) đã được Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành tại Quyết định số 6708/QĐ-UBND ngày 29/12/2012 và Quyết định số 3457/QĐ-UBND ngày 28/6/2013.
- - Văn bản số 3045/SQHKT-TTR ngày 28/6/2018 của Sở Quy hoạch - Kiến trúc xử lý đơn thư (đơn có tiêu đề khiếu nại nhưng nội dung là kiến nghị, phản ánh nên căn cứ Điều 11, Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011, Sở Quy hoạch – Kiến trúc đã phân loại nội dung và trả lời nội dung kiến nghị) của Công ty Cổ phần Đ với các nội dung có tính giải thích làm rõ các cơ sở pháp lý áp dụng để xem xét chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc công trình xây dựng tại khu đất số H T, Phường F, Quận C; Cách xác định chỉ tiêu mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất và chiều cao công trình xây dựng phù hợp quy định tại thời điểm hiện hành và trả lời đề nghị tăng chỉ tiêu hệ số sử dụng đất tại khu đất nêu trên của Công ty Đ.
Về việc Công ty Cổ phần Đ yêu cầu áp dụng một phần Quyết định số 135/2007/QĐ-UBND ngày 08/12/2007, Quyết định số 45/2009/QĐ-UBND ngày 03/7/2009 và Quyết định số 3457/QĐ-UBND ngày 28/6/2013 của Ủy ban nhân dân
Thành phố để xác định chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc tại khu đất số 08 T thì thấy rằng không có cơ sở để chấp nhận, bởi lẽ:
- + Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 1 Quyết định 135/2007/QĐ-UBND ngày 08/12/2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố, mục tiêu của quy định về kiến trúc nhà liên kế trong khu đô thị hiện hữu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: “Bổ sung cho các đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng (1/2000) hiện chưa đầy đủ các lớp thông tin về kiến trúc, quy hoạch để quản lý xây dựng đối với từng lô đất chưa đầy đủ nội dung thiết kế đô thị”.
- + Căn cứ Khoản 1 Điều 25 Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị chung Thành phố H ban hành kèm theo Quyết định số 29/2014/QĐ-UBND ngày 29/8/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố: “Trường hợp quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị riêng của khu vực hoặc Quy chế quản lý kiến trúc cấp II (được lập theo Nghị định số 29/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ về quản lý kiến trúc đô thị), Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc khu vực được duyệt có quy định khác hoặc cụ thể hơn so với quy định về kiến trúc tại Quyết định số 135/2007/QĐ-UBND và Quyết định số 45/2009/QĐ-UBND, thì được áp dụng các quy định trong quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị riêng, Quy chế quản lý kiến trúc cấp II, Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc được duyệt của khu vực đó.”
- + Căn cứ Khoản 6.5 Điều 1 Quyết định số 6708/QĐ-UBND ngày 29/12/2012, Ủy ban nhân dân Thành phố: “Các chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc (hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng) được quy định cho từng lô đất,...”
- + Căn cứ Điều 1, Điều 2 Quyết định số 3457/QĐ-UBND ngày 28/6/2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố: “Các đơn vị quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị hướng dẫn các tổ chức, cá nhân tuân thủ theo các quy định trong quy chế này” và “Các nội dung quy định về chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc đến từng lô đất, bao gồm hệ số sử dụng đất, chiều cao công trình, mật độ xây dựng, khoảng lùi được áp dụng để cung cấp thông tin quy hoạch, cấp phép xây dựng công trình”.
Do vậy, Khu đất số H T, Phường F, Quận C thuộc phạm vi, đối tượng áp dụng của Đồ án quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 và Quy chế quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị Khu trung tâm hiện hữu Thành phố H (930 ha).
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 673/2022/HC-ST ngày 20/5/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
1/ Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đ về việc:
- - Hủy Quyết định số 370/QĐ-XPVPHC ngày 21/02/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Cổ phần Đ.
- - Hủy Quyết định số 1500/QĐ-XPVPHC ngày 18/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng đối với Công ty Cổ phần Đ.
- - Hủy Quyết định số 2399/QĐ-CCXP ngày 20/9/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với Công ty Cổ phần Đ.
- - Hủy Quyết định số 2736/QĐ-CCXP ngày 03/8/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với Công ty Cổ phần Đ.
- - Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại cho người khởi kiện theo hướng hủy Văn bản số 1452/SQHKT ngày 25/4/2016 và Văn bản số 3045/SQHKT-TTr ngày 28/6/2018 của Sở Quy hoạch - Kiến trúc và yêu cầu Sở Q - Kiến trúc xem xét xác định lại, đề xuất về chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc tại số nhà H T, báo cáo thông qua Hội đồng Kiến trúc – Quy hoạch và trình Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét quyết định.
- - Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại cho người khởi kiện theo hướng được áp dụng các chỉ tiêu kiến trúc nhà liền kề tại một phần Quyết định 135/2007/QĐ-UBND, Quyết định 45/2009/QĐ-UBND và Quyết định 3457/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố H về quản lý không gian kiến trúc để xác định lại chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc đối với công trình số 08 Trương Định như sau: Công trình dân dụng cấp II; Chiều cao lùi vào so với chỉ giới xây dựng 2,5 m: 34,5 m; Chiều cao toàn công trình 36 m; Mật độ xây dựng là 80%; Hệ số sử dụng đất khoảng 8,8; Diện tích sàn xây dựng: 83,58 m²; Tổng diện tích xây dựng: 1.145 m²; Số tầng: hầm, trệt (tầng 1), lửng, 9 tầng, tum, tầng áp mái lợp tôn.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 30/5/2022 phía người khởi kiện Cty Cổ phần Đ làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía Công ty.
Quyết định Kháng nghị số 33/QĐ-VKS-HC ngày 20/6/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử lại theo hướng hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía người khởi kiện thay đổi yêu cầu, là chỉ yêu cầu hủy đối với quyết phần quyết định về khắc phục hậu quả tháo dỡ công trình vi phạm. Đối với phần phạt tiền thì đương sự đã nộp xong, các phần về quyết định cưỡng chế thì vẫn yêu giải quyết. Luật sư bảo vệ cho người khởi kiện thì đề nghị chấp nhận đối với yêu cầu kháng cáo cũng như yêu cầu khởi kiện của phía ông L, đại diện cho Công ty Đ và các vị luật sư cũng đã gửi bài bảo vệ đối với việc trình bày quan điểm của mình về việc bảo vệ cho phía người khởi kiện.
Phía người bị kiện thì đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm và xác định Quyết định số 370/QĐ-XPVPHC và Quyết định số 1500/QĐ-XLVPHC là xử lý đúng quy định của pháp luật. Đối với các quyết định cưỡng chế cũng thực hiện đúng các trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, đề nghị bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng nghị và chấp nhận yêu cầu kháng cáo của phía người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm. Riêng đối với việc rút lại đối với một phần yêu cầu khởi kiện và một phần yêu cầu kháng cáo. Viện kiểm sát đề nghị đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo Công ty Cổ phần Đ làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
[2] Về quan hệ tranh chấp, đối tượng giải quyết và thẩm quyền giải quyết:
[2.1] Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của phía Công ty Cổ phần Đ thì vụ án có quan hệ tranh chấp về: “Khiếu kiện, quyết định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về xây dựng thuộc trường hợp xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế xử lý vi phạm hành chính”.
[2.2] Mà cụ thể là phía người khởi kiện đòi hủy các quyết định hành chính là đối tượng cần giải quyết như sau:
- Yêu cầu hủy Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 370/QĐ-XPVPHC ngày 21/2/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng.
- Yêu cầu hủy Quyết định số 1500/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H.
- Yêu cầu hủy Quyết định 2399/QĐ-CCXP ngày 20/9/2019 về việc cưỡng chế để thực hiện đối với Quyết định 370 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng và Quyết
định 2736/QĐ-CCXP ngày 20/8/2020 về việc cưỡng chế trong việc thực hiện đối với Quyết định 1500 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng các đối tượng yêu cầu giải quyết nêu trên và giải quyết đúng thẩm quyền được pháp luật quy định tại các Điều 3, Điều 28, Điều 30, Điều 31, Điều 115 của Luật Tố tụng hành chính; Nghị định số 121/2013/NĐ-CP và Nghị định số 139/2017/NĐ-CP của Chính phủ.
[2.3] Ngoài ra, phía Công ty Cổ phần Đ còn yêu cầu khởi kiện đòi hủy các Văn bản số 1452, Văn bản số 3045 của Sở Quy hoạch Kiến trúc Thành phố H và đòi buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H giải quyết khiếu nại theo hướng áp dụng Quyết định số 135/2007/QĐ-UBND, Quyết định số 45/2009/QĐ-UBND và Quyết định số 3457/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố H, để xác định việc Công ty 3H xây dựng là đúng quy định của pháp luật.
Xét thấy, Văn bản số 3045 và Văn bản số 1042 của Sở Quy hoạch Kiến trúc là những văn bản nêu ý kiến trả lời chỉ mang tính chất trao đổi về nghiệp vụ với đương sự, không chứa đựng nội dung giải quyết khiếu nại, cụ thể là chấp nhận hay không chấp nhận đối với yêu cầu khiếu nại của phía Công ty Đ, cũng như không mang tính bắt buộc, mệnh lệnh để thực hiện, nên không phải là đối tượng giải quyết trong vụ án hành chính, được pháp luật quy định tại Điều 3, Điều 28 và Điều 115 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là đối tượng để giải quyết là chưa phù hợp.
Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H đã không giải quyết khiếu nại đối với yêu cầu khiếu nại của phía Công ty Cổ phần Đ là chưa phù hợp với quy định của Luật Khiếu nại. Tuy nhiên, theo Luật Khiếu nại thì đây thuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Theo Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền lựa chọn việc khởi kiện tại Tòa án hoặc lựa chọn việc giải quyết khiếu nại ở cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền của cơ quan Nhà nước. Trong vụ án này không thể cùng lúc, vừa yêu cầu giải quyết khiếu nại, vừa yêu cầu khởi kiện giải quyết trong cùng một vụ án hành chính, nên đối tượng giải quyết trong vụ án này chỉ là quyết định xử lý vi phạm hành chính và quyết định cưỡng chế, được pháp luật quy định tại Điều 3 Điều 28 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án cấp phúc thẩm sẽ điều chỉnh lại việc xác định đối tượng giải quyết vụ án cho đúng với trình tự, thủ tục tố tụng của Luật Tố tụng hành chính, như đã viện dẫn.
[3] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của đương sự:
[3.1] Căn cứ vào Biên bản số 1824 ngày 15/2/2019 của Thanh tra Sở Xây dựng, về nội dung có ghi như sau: Về hành vi tổ chức thi công xây dựng không
đúng theo Giấy phép số 10 ngày 12/1/2017 gồm: Bít các lỗ thông tầng, xây lỗ thang máy và nâng cao chiều cao chưa đổ bê tông. Sau đó, Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H ban hành Quyết định số 370/QĐ-XPVPHC ngày 21/02/2019: Xử phạt Công ty Cổ phần Đ số tiền 40.000.000đồng và trong hạng 60 ngày xin phép, nếu không có giấy phép thì áp dụng tháo dỡ. Đến ngày 20/9/2019, Chánh Thanh tra của Sở Xây dựng ban hành Quyết định số 2399/QĐ-CCXP: Cưỡng chế buộc tháo dỡ đối với phần sai phép nêu trên.
[3.2] Căn cứ Biên bản số 1715 ngày 05/4/2019 của Thanh tra Sở Xây dựng về nội dung có ghi như sau: Vẫn tiếp tục vi phạm thi công, bít các lỗ thông tầng, xây lỗ thang máy và nâng cao chiều cao chưa đổ bê tông. Sau đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 1500/QĐ-XPVPHC ngày 18/4/2019: Xử phạt Công ty Cổ phần Đ số tiền 325.000.000đồng và áp dụng tháo dỡ. Đến ngày 03/8/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 2736/QĐ-UBND: Cưỡng chế buộc tháo dỡ đối với phần sai phép nêu trên.
[3.3] Về số tiền phạt thì Công ty Cổ phần Đ nộp xong nên không tranh chấp tiền phạt. Đối với phần tháo dỡ công trình sai phép thì các bên đã phát sinh tranh chấp.
[3.4] Theo khoản 2 Điều 97 Nghị định 139/NĐ-CP quy định: Hành vi vi phạm ở khoản 1 khoản 2 khoản 3 Điều 5 Nghị định 180/2007/NĐ-CP nếu xảy ra sau Nghị định 180/NĐ-CP có hiệu lực pháp luật, kết thúc trước ngày Nghị định 139/NĐ-CP có hiệu lực pháp luật, đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại khoản 9 Điều 13 của Nghị định 121/NĐ-CP phù hợp với quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì xử lý theo khoản 9 Điều 13 của Nghị định 121/2013/NĐ-CP của Chính phủ.
Tại khoản 9 Điều 13 Nghị định 121/NĐ-CP của Chính phủ quy định: Hành vi vi phạm ở quy định tại khoản 5 Điều 13 là tổ chức thi công, công trình xây dựng sai nội dung giấy phép mà không vi phạm chỉ giới xây dựng, không gây ảnh hưởng các công trình xây dựng khác, không có tranh chấp, xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp. Thì ngoài việc bị xử lý vi phạm còn bị buộc nộp số tiền thu lợi bất hợp pháp bằng 40% giá trị phần sai phép, không phép đối với công trình nhà ở riêng lẻ và bằng 50% đối với công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng.
Sau khi chủ đầu tư nộp phạt xong thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cấp giấy phép hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng theo luật định.
[3.5] Đối chiếu với Quyết định số 370/QĐ-XPVPHC ngày 21/02/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H, thì thấy:
Theo Biên bản lập vào ngày 15/2/2019 ghi số 1842 xác định hành vi vi phạm, thì nội dung không xác định cụ thể vi phạm tại thời điểm nào. Phía Thanh tra Sở Xây dựng cho rằng lúc lập biên bản thì đơn vị đang thi công, còn phía Công ty
Cổ phần Đ thì xác định đã dừng thi công từ lâu và Công ty đang đi vào hoạt động, được thể hiện tại nội dung theo nhật ký công trình. Quá trình thực hiện việc xử lý vi phạm khi có mâu thuẫn thì lẽ ra cơ quan quản lý hành chính Nhà nước phải thực hiện xác minh, thẩm tra, làm rõ để xác định thời điểm thi công.
Về nội dung biên bản cũng không thể hiện số lượng vật liệu, lực lực công nhân trực tiếp đứng ra xây dựng, hình ảnh, phim v.v.. để ghi chép lại tại hiện trường. Do đó biên bản 1842 chưa phù hợp với quy định pháp luật về việc lập biên bản theo mẫu quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, từ đó đã không xác định được thời gian vi phạm để áp dụng điều luật chuyển tiếp như đã viện dẫn, là đã gây thòi quyền lợi cho phía Công ty Cổ phần Đ.
Nếu xác định rõ thời gian thi công một cách khách quan thì phía Công ty Cổ phần Đ được cấp phép hoặc điều chỉnh giấy phép theo luật định như đã viện dẫn.
Ngoài ra, trong nội dung ghi sai phép có hành vi lắp thang máy, bít lỗ thông tầng. Xét thấy, theo Giấy phép xây dựng số 10 cấp năm 2017 của Sở Xây dựng Thành phố H cấp cho Công ty Cổ phần Đ, thì cho phép xây 8 tầng nhưng không có nội dung về lối đi thang bộ hoặc lối đi thang máy lên các tầng, giấy phép trên không thể hiện công năng của việc di chuyển lên các tầng lầu là chưa phù hợp với chức năng sử dụng của nhà 8 tầng.
Việc xác lập hành vi vi phạm và xử lý hành vi vi phạm này là chưa thỏa đáng vì không thể căn cứ vào giấy phép có nội dung không phù hợp để xác định là sai phép được. Do đó, Quyết định số 370/QĐ-XPVPHC ngày 21/02/2019 nêu trên đã căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính chưa chặt chẽ về thủ tục và giấy phép không có tính khả thi để từ đó xử lý vi phạm hành chính là chưa có căn cứ và chưa phù hợp với quy định pháp luật cũng như chưa phù hợp với thực tế khách quan.
[3.6] Đối với Quyết định số 1500/QĐ-XPVPHC ngày 18/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H, thì thấy:
Theo Biên bản số 1715 được ghi ngày 05/4/2019 lập tại Thanh tra Sở Xây dựng, địa chỉ F T, Quận C và biên bản này có nội dung ghi căn cứ vào biên bản lập tại Ủy ban nhân dân Phường F, Quận C do người lập là ông Nguyễn Mạnh K chuyên viên và ông Võ Ngọc H1 là cán sự, lập vào ngày 05/4/2019, ở phần ký giáp lai có chữ ký của ông Trịnh Nguyễn Thanh P, nhưng ở phần thủ tục người lập biên bản thì không có tên ông Trịnh Nguyễn Thanh P, do đó không biết ông P ký tên vào biên bản với tư cách là nhân viên công vụ hay là người làm chứng.
Thực tế, qua làm việc được biết ông P là Đội phó Đội Thanh tra cơ động của Thanh tra Sở Xây dựng, vì theo Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 28/10/2024 do Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh lập tại hiện trường thì có mặt ông P giới thiệu với tư cách là Đội phó Đội thanh tra cơ động, như vậy có thể xác
định ông là nhân viên công vụ, nhưng việc ký tên sau đó là để hợp thức hóa thủ tục của việc lập biên bản này.
Ngoài ra, trong biên bản này cũng không có chữ ký của chính quyền địa phương Phường F, Quận C tham gia. Việc lập biên bản thiếu thành phần tham gia như nêu trên là chưa đúng với quy định của pháp luật và chưa phù hợp với thực tế.
Theo Luật xử lý vi phạm hành chính, khi lập biên bản vi phạm phải lập tại địa điểm xảy ra vi phạm trừ khi người vi phạm không đồng ý ký tên. Do đó, không lý do gì mà Thanh tra Sở Xây dựng lại lập biên bản tại Ủy ban nhân dân Phường F và tiếp tục lập biên bản tại Thanh tra Sở Xây dựng, trong khi Công ty Cổ phần Đ do ông L đại diện đã có mặt tại công ty và đồng ý ký tên.
Nội dung của biên bản số 1715 ngày 05/4/2019 cũng giống như biên bản số 1842 ngày 15/2/2019, ghi cùng hành vi lắp thang máy, hành vi vi phạm về chiều cao, việc cùng hành vi mà lập biên bản 2 lần là chưa phù hợp với quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và không đúng với thực tế vi phạm.
Ngoài ra, việc xác định thời gian diễn ra vi phạm lần này cũng không ghi trong biên bản, về giấy phép xây dựng cũng không phù hợp.
Quyết định số 1500/QĐ-XPVPHC nêu trên đã căn cứ vào biên bản chưa phù hợp để ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính là chưa khách quan và chưa đúng với quy định của pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu của người khởi kiện là chưa xem xét đến tính có căn cứ và tính hợp pháp khi ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính. Do đó, có cơ sở để sửa bản án sơ thẩm về phần này.
[3.7] Đối với quyết định cưỡng chế số 2399/QĐ-CCXP ngày 20/9/2019 của Chánh Thanh tra Thành phố H và Quyết định cưỡng chế số 2736/QĐ-CCXP ngày 03/8/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H:
Do quyết định xử lý vi phạm hành chính về tháo dỡ một phần công trình xây dựng không phù hợp với quy định của pháp luật nên các quyết định cưỡng chế trên cũng không phù hợp.
Ngoài ra, nội dung của hai quyết định cưỡng chế nêu trên trùng lắp nhau về địa điểm cưỡng chế, về đối tượng bị cưỡng chế là Công ty Cổ phần Đ và cùng với các biện pháp khắc phục hậu quả tháo dỡ công trình giống nhau về diện tích, vi phạm, về lỗ thông tầng, về lắp thang máy v.v.., sự trùng lắp nêu trên là không phù hợp vì không thể thực hiện hai quyết định cưỡng chế nêu trên với cùng một đối tượng bị cưỡng chế hai lần. Do đó, cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần này.
[3.8] Đối với việc rút yêu cầu khởi kiện về số tiền phạt của phía người khởi kiện vì cho rằng đã nộp xong nên không tranh chấp, Hội đồng xét xử xét thấy việc
rút yêu cầu trên là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận. Đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện này theo luật định.
[4] Án phí hành chính sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên Công ty Cổ phần Đ không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, phía người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H và Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H, phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo luật định.
[5] Án phí hành chính phúc thẩm: Do chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên Công ty Cổ phần Đ không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ Điều 241 Luật Tố tụng hành chính.
QUYẾT ĐỊNH
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần Đ và chấp nhận Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng các Điều 3, Điều 28, Điều 115, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính. Áp dụng Nghị định số 139/2017/NĐ-CP, Nghị định 121/NĐ-CP của Chính phủ; Áp dụng Thông tư số 03/2018/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 139/NĐ-CP; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về lệ phí, án phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đ.
- 1.1/ Hủy điểm c khoản 6 Điều 1 của Quyết định số 370/QĐ-XPVPHC ngày 21/2/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H.
- 1.2/ Hủy Quyết định cưỡng chế số 2399/QĐ-CCXP ngày 20/9/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H.
- 1.3/ Hủy khoản 3 Điều 1 của Quyết định số 1500/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H.
- 1.4/ Hủy Quyết định cưỡng chế số 2736/QĐ-UBND ngày 3/8/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H.
2/ Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện về số tiền phạt trong Quyết định số 370/QĐ-XPVPHC ngày 21/2/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện về số tiền phạt trong số Quyết định số 1500/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H.
3/ Về án phí hành chính sơ thẩm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H và Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H, mỗi đương sự chịu số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Công ty Cổ phần Đ không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm; hoàn trả cho Công ty Cổ phần Đ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm theo Biên lai thu số AA/2019/0024353 ngày 29/8/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
4/ Án phí hành chính phúc thẩm: Công ty Cổ phần Đ không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm, hoàn trả cho Công ty Cổ phần Đ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí kháng cáo theo Biên lai thu số 0002428 ngày 14/6/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
5/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 1188/2024/HC-PT ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện, quyết định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về xây dựng thuộc trường hợp xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế xử lý vi phạm hành chính
- Số bản án: 1188/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện, quyết định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về xây dựng thuộc trường hợp xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế xử lý vi phạm hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
