TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1186/2024/ HNGĐ-ST Ngày: 04-9-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thành Viên.
- Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số: 839/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 557/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lê Thu H, sinh năm: 1983; Nơi đăng ký HKTT: số A Đường số A, Phường 1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 956/36/36 Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Phan Thanh Ý3, sinh năm: 1980; Nơi đăng ký HKTT: số A Đường số A, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/7/2024 và trong quá trình hòa giải, xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Lê Thu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lê Thu Hươngông Phan Thanh Ý ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 04/4/2006. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, sau một thời gian dài chung sống có những bất hòa không thể giải quyết được, bà H bị bạo lực tình dục, bị chảy máu nơi bộ phận sinh dục nhiều lần do ảnh hưởng của bạo lực trong quan hệ tình dục. Đời sống chung không thể hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được, đã sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay. Do đó, bà Nguyễn Lê Thu H1 cầu được ly hôn với ông Phan Thanh Ý3
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Nguyễn Lê Thu H2 BDViết_thường ông Phan Thanh Ý1 người con chung tên Phan Thanh L, sinh ngày 23/9/2006, Phan Đăng K, sinh ngày 14/10/2009. Hiện nay, con chung đang sống cùng mẹ là bà Nguyễn Lê Thu H3 Nguyễn Lê Thu H1 cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông Phan Thanh Ý2 dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Lê Thu H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tài sản chung, nợ chung.
Bà Nguyễn Lê Thu H khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác để cung cấp cho Tòa án.
Theo bản tự khai đề ngày 14/8/2024 và trong quá trình hòa giải, xét xử bị đơn ông Phan Thanh Ý3 trình bày:
Ông Phan Thanh Ý3 thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Lê Thu H về thời gian kết hôn và thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, có việc bạo lực tình dục nhưng sau đó ông Ý đã thay đổi, việc vợ chồng ly thân từ tháng 9/2023 đến nay là đúng nhưng ông Ý cho rằng đó là chuyện bình thường, giữa vợ chồng không có mâu thuẫn gì nghiêm trọng. Ông Ý đã cố gắng thay đổi, phụ giúp vợ con và đang tốt lên từng ngày. Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông Ý không đồng ý.
Về con chung: Có 02 người con chung tên Phan Thanh L, sinh ngày 23/9/2006 và Phan Đăng K, sinh ngày 14/10/2009. Ông Phan Thanh Ý3 không đồng ý ly hôn nên muốn hai con cùng ở với vợ chồng và không có ý kiến khác.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Phan Thanh Ý3 xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tài sản chung, nợ chung.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lê Thu H vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Nguyễn Lê Thu H ly hôn với ông Phan Thanh Ý3; yêu cầu trực tiếp nuôi hai (02) con chung tên Phan Thanh L, sinh ngày 23/9/2006 và Phan Đăng K, sinh ngày 14/10/2009; không yêu cầu ông Phan Thanh Ý2 dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà H cho rằng ông Ý nhiều lần chửi thề gây ảnh hưởng với bà H và các con về mặt tâm lý suốt thời gian dài, bà H thường xuyên bị bạo lực tình dục, ông Ý thường xuyên lên cơ quan nơi bà H đang làm việc để kiếm chuyện, ghen tuông vô cớ, la hét khiến bà H rất xấu hổ với đồng nghiệp. Hiện nay bà H và hai con đã chuyển ra ngoài sống cùng nhau từ tháng 8/2024 và thật sự 03 mẹ con đang rất thoải mái, vui vẻ.
Bị đơn: Không đồng ý ly hôn. Việc tôi lên cơ quan của vợ là do tôi nghi ngờ vợ có người khác vì vợ tôi thường xuyên làm việc 8-9 giờ đêm mới về nên tôi lên vào buổi tối để kiểm tra xem có đúng không chứ không hề đi vào giờ làm việc. Việc bạo lực trong quan hệ tình dục là do lúc mới cưới, xảy ra lâu rồi, sau khi vợ tôi góp ý thì tôi đã sửa đổi. Vợ chồng tôi đã ly thân từ tháng 9/2023 là do tôi nghi ngờ vợ tôi có người khác chứ không có mâu thuẫn gì hết, tôi thấy hôn nhân chưa trầm trọng, tôi vẫn thương vợ và mong hàn gắn hạnh phúc gia đình. Việc tôi nghi ngờ vợ tôi ngoại tình thì không có chứng cứ gì. Về con chung thì tôi mong muốn con cái được ở với cả ba mẹ. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này; thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ Viện kiểm sát nghiên cứu.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lê Thu H được ly hôn với ông Phan Thanh Ý3.
- Về con chung: Giao hai (02) con chung tên Phan Thanh L, sinh ngày 23/9/2006 và Phan Đăng K, sinh ngày 14/10/2009 cho bà Nguyễn Lê Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Bà Nguyễn Lê Thu H4 yêu cầu ông Phan Thanh Ý2 dưỡng nuôi con chung, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Phan Thanh Ý3 cho đến khi bà Nguyễn Lê Thu H có yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Lê Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết trong vụ án này.
- Đương sự chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, T phồ Hồ Chí Minh nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ pháp luật: Khi thụ lý vụ án Tòa án xác định tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn”. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Phan Thanh Ý3 hiện đang cư trú tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2006, Quyển số 01 ngày 04/4/2006 tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh có căn cứ xác nhận hôn nhân giữa bà Nguyễn Lê Thu H và ông Phan Thanh Ý3 là hợp pháp.
Căn cứ vào bản tự khai và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Nguyễn Lê Thu H và ông Phan Thanh Ý3 sau một thời gian chung sống với nhau bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài, không có hạnh phúc. Hai bên cố gắng hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân V Phường 09, quận G có nội dung: “Bà Nguyễn Lê Thu H, sinh năm 1983 và ông Phan Thanh Ý3, sinh năm 1980...đã có mâu thuẫn nhiều năm trước đó, hiện đã ly thân gần 01 năm nay. Nguyện vọng của bà Thu H là muốn ly hôn. Kính đề nghị cơ quan chức năng xem xét và giải quyết...”.
Ông Phan Thanh Ý3 xác nhận giữa vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không trầm trọng, ông có bạo lực tình dục nhưng khi bà H góp ý thì ông đã sửa đổi, không còn hành vi này nữa, ông Ý xác nhận vợ chồng ly thân từ tháng 9/2023 đến nay nhưng chuyện đó là bình thường giữa vợ chồng. Ông mong muốn được tiếp tục chung sống vợ chồng và không đồng ý ly hôn.
Xét thấy, vợ chồng cùng xây dựng gia đình là để thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ mọi việc trong cuộc sống nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà Nguyễn Lê Thu H và ông Phan Thanh Ý3 không còn sự chia sẻ lẫn nhau dẫn đến nhiều mâu thuẫn phát sinh không thể khắc phục. Hơn nữa, việc bà H và ông Ý đã ly thân từ tháng 9/2023 đến nay cho thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Mặt khác, tình cảm của bà Nguyễn Lê Thu H và ông Phan Thanh Ý3 dành cho nhau không còn, không còn sự tin tưởng nhau. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà Nguyễn Lê Thu H là phù hợp với quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Lê Thu H đối với ông Phan Thanh Ý3.
Về con chung: Trong thời gian sống chung, bà Nguyễn Lê Thu H và ông Phan Thanh Ý3 có hai (02) con chung tên Phan Thanh L, sinh ngày 23/9/2006 và Phan Đăng K, sinh ngày 14/10/2009.
Căn cứ bản sao có chứng thực Giấy khai sinh số 108/2006, quyển số: 01 ngày 05/10/2006, Giấy khai sinh số 100, quyển số: 01/2009 ngày 22/10/2009 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở xác định trẻ Phan Thanh L, sinh ngày 23/9/2006 và Phan Đăng K, sinh ngày 14/10/2009 là con chung của bà Nguyễn Lê Thu Hươngông Phan Thanh Ý3
Bà Nguyễn Lê Thu H5 vọng trực tiếp nuôi hai con chung Phan Thanh L, sinh ngày 23/9/2006 và Phan Đăng K, sinh ngày 14/10/2009; không yêu cầu ông Phan Thanh Ý2 dưỡng nuôi con.
Qua ghi nhận ý kiến của trẻ, thì trẻ Phan Thanh L có ý kiến trình bày: “...con muốn sau khi ba mẹ ly hôn, con được ở với mẹ, được giữ lại những thứ ba mẹ mua cho, con muốn ba mẹ sẽ có lối đi riêng cho mình một cách hạnh phúc...”. Trẻ Phan Đăng K có ý kiến trình bày: “...Sau này khi ba mẹ ly hôn, con muốn ở với mẹ và giữ lại những thứ ba mẹ đã mua cho. Sau đó con muốn chia đều tài sản cho bốn người và cuối cùng ba không làm phiền mẹ nữa. Con hy vọng sau này ba và mẹ sẽ có một cuộc sống hạnh phúc cho riêng mình...”
Bà H trình bày hiện nay bà đang là công chức Văn phòng thống kê Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và thu nhập ổn định của bà hiện nay là 22.431.050 đồng/tháng, phù hợp với bảng xác nhận lương của bà H do Ủy ban nhân dân Phường A, quận G xác nhận. Hai trẻ đều có nguyện vọng được sống cùng với mẹ là bà Nguyễn Lê Thu H6 tế hiện nay hai trẻ đang do bà H nuôi dưỡng, chăm sóc. Như vậy, bà H có thu nhập ổn định, đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; bà H là công chức nên có điều kiện về thời gian tối thiểu để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Do đó, để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con chung được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần; bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con; nguyện vọng của con được sống chung với mẹ; đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên, khi bà Nguyễn Lê Thu Hươngông Phan Thanh Ý4, cần giao 02 (hai) con chung cho bà Nguyễn Lê Thu H7 trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Lê Thu H1 cầu ông Phan Thanh Ý5 nuôi con chung; ông Phan Thanh Ý3 không có ý kiến đối với vấn đề này. Tòa án giải thích cho bà Nguyễn Lê Thu H việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con nhưng bà H vẫn giữ nguyên ý kiến không yêu cầu ông Phan Thanh Ý3 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà Nguyễn Lê Thu H có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc bà H không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện nên có cơ sở chấp nhận theo nguyện vọng của bà Nguyễn Lê Thu H8 hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng của MERGEFIELD BDViết_thường ông Phan Thanh Ý6 khi bà H có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Lê Thu H và ông Phan Thanh Ý3 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nội dung vụ án và đúng quy định pháp luật.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016, bà Nguyễn Lê Thu H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng).
[5] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 232; Điều 271; Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 53, 55, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 6, Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 17 Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lê Thu H được ly hôn với ông Phan Thanh Ý3.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2006, Quyển số 01 ngày 04/4/2006 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh hết hiệu lực)
1.2. Về con chung:
Giao hai (02) con chung tên Phan Thanh L, sinh ngày 23/9/2006 và Phan Đăng K, sinh ngày 14/10/2009 cho bà Nguyễn Lê Thu H trực tiếp nuôi cho đến khi trẻ Phan Thanh L và Phan Đăng K đủ 18 tuổi. Bà Nguyễn Lê Thu H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Phan Thanh Ý3 cho đến khi bà Nguyễn Lê Thu H có yêu cầu.
Ông Phan Thanh Ý3 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Lê Thu H và ông Phan Thanh Ý3 xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng không xem xét giải quyết trong vụ án này.
1.4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Lê Thu H và ông Phan Thanh Ý3 xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng không xem xét giải quyết trong vụ án này.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Lê Thu H phải chịu số tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0014108 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Lê Thu H9 nộp đủ án phí.
3. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Châu Ly |
Bản án số 1186/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 1186/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Lê Thu H và ông Ông Phan Thanh Y3
