Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 118/2024/HSST

Ngày: 03/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lập

Các hội thẩm nhân dân : Ông: Vương Đình Quang

Bà: Trần Thị Oanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 03/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/HSST ngày 9/04/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 04 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Minh T, sinh năm 1982, HKTT và nơi ở: Tổ dân phố Đ, phường T, quận B, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đỗ Ngọc M (đã chết) và bà Chử Thị T, sinh năm 1957. Tiền án, tiền sự theo danh chỉ bản số 000001*** lập ngày 27/12/2023 tại Công an quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội và lý lịch cá nhân bị cáo có tiền án: Bản án số 133/2022/HSST ngày 28/7/2022, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Buộc T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST. Bản án số 999/2022/HS-PT ngày 23/11/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí HSPT. Ngày 27/2/2023, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm ra Quyết định ủy thác thi hành án hình sự số 10 đối với Đỗ Minh T đến Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm. Ngày 22/01/2024, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định thi hành án phạt tù số 06 đối với Đỗ Minh T. Khi đang chờ ra Quyết định thi hành án thì ngày 17/12/2013, T lại tiếp tục phạm tội mới. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023, có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Như T, sinh năm 1998, HKTT: Thôn T, xã V, thành phố T, Thái Bình. Nơi ở: Ở trọ tại số 22A ngõ 1 N, phường T, C, Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Như T, sinh năm 1975 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1980. Tiền án, tiền sự theo danh chỉ bản số 000001*** lập ngày 27/12/2023 tại Công an quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội và lý lịch cá nhân bị cáo không có tiền án tiền sự. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Minh T và Phạm Như T cùng làm lái xe cho công ty V, địa chỉ: số 91 C, Đống Đa, Hà Nội và đều là những người có sử dụng ma túy. T có quen biết xã hội với Phạm Ngọc T (Sinh năm: 1983; Nơi thường trú: Tổ 5, phường T, thành phố T, Thái Bình) ở tại địa chỉ Căn hộ 08.9 Chung cư V, phường T, quận C, Hà Nội. Ngày 08/12/2023, T xin T cho ở cùng và được T sắp xếp cho ở một phòng riêng trong Căn hộ 08.9 (T ở phòng phía bên ngoài gần cửa ra vào, còn T ở phòng riêng phía bên trong).

Do cần tiền tiêu sài và có nhu cầu sử dụng ma túy nên T vào các nhóm trên mạng xã hội Telegram tìm mua ma túy về bán kiếm lời. T thấy một người sử dụng tên tài khoản “Ngọc Anh” (không rõ nhân thân, lai lịch) tìm người làm đầu mối bán ma túy “kẹo” và “ke”. T và “Ngọc Anh” thỏa thuận “Ngọc Anh” sẽ cấp cho T 10 viên ma túy “kẹo” và 4 chỉ ma túy “ke” với giá 200.000 đồng/1 viên ma túy kẹo và 1.500.000 đồng/1 chỉ ma túy “ke” nếu T bán được thì mới phải trả tiền và “Ngọc Anh” sẽ hướng dẫn cách giao dịch cho những lần tiếp theo. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/12/2023, “Ngọc Anh” hẹn T ra khu vực đường Tú Mỡ đoạn ngã 3 giao cắt với đường Phạm Hùng thuộc địa bàn phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội tìm đến một chiếc xe ô tô kiểu dáng Hyundai I10 màu xám đỗ ở lề đường để lấy ma túy, khi T đến gần thì thấy trên xe ô tô có người hạ cửa kính xuống ném ra ngoài một hộp mỹ phẩm. T đoán biết đó là ma túy nên nhặt mang về Căn hộ 08.9 mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có 01 một túi nilong chứa ma túy “ke” và 01 túi nilong chứa 11 viên ma túy “kẹo” hình bầu dục màu trắng.

Sau khi mua được ma túy, T đổ một phần nhỏ ma túy “ke” ra đĩa chia được 02 túi “nửa chỉ” còn thừa một ít trên đĩa T dùng thẻ nhựa gạt gọn, xào lên, quấn ống hút từ tờ tiền nước ngoài định sẽ sử dụng thử thì có bạn xã hội gọi ra ngoài đi chơi nên T để đĩa ma túy lại trên bàn ăn ở phòng khách. T lấy ra 01 viên ma túy “kẹo” mang theo người định khi đi chơi sẽ giới thiệu với các bạn ai muốn mua dùng thử thì T sẽ bán, số ma túy còn lại T cất giấu trên nóc tủ quần áo trong phòng của T.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17/12/2023, bạn xã hội tên “M” ( hiện không xác định nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho T nhờ lấy hộ 01 chỉ ma túy “ke”, do T đang đi chơi không có ở nhà và không muốn M biết T là người trực tiếp bán ma túy nên bảo M gọi cho T (lúc này T đang ở phòng trọ), đồng thời T cũng sử dụng tài khoản Facebook “Híp Slim” gọi điện thoại cho T nhờ T nghe điện thoại của M.

Khoảng 00 giờ ngày 18/12/2023, T nhận được cuộc gọi Zalo của M từ tài khoản “Đặng Phương M” gọi đến tài khoản Zalo “T béo” để hỏi mua ma túy, T gọi lại báo cho T biết. Lúc này, T báo giá với M là 3.000.000 đồng cho 1 chỉ ma túy “ke” và thêm 300.000 đồng tiền ship thì M đồng ý hẹn ship đến địa chỉ số 57 Phố Nhổn, phường Phương Canh, Nam Từ Liêm, Hà Nội, để giao dịch trực tiếp. T gọi điện thoại nhờ T đi sang phòng của T ở Căn hộ 08.9 tìm trên nóc tủ lấy 2 túi ke nhỏ (mỗi

túi nửa chỉ, tổng là một chỉ ke) để mang đi bán cho M và thu hộ T 3.300.000 đồng, T hứa hẹn sẽ cho T 300.000 đồng. Sau đó T đến phòng của T, tìm trên nóc tủ lấy được 02 túi ma túy “ke” theo chỉ dẫn của T, T báo lại cho T biết thì T bảo T giao đến số 57 Phố Nhổn cho M và chủ động liên lạc với M vì T đang đi chơi với bạn. T cất giấu 02 túi ma túy vào trong vỏ bao thuốc lá rồi một mình điều khiển xe ô tô BKS: 30E – 092.22 đi đến khu vực trước số nhà 57, Phố Nhổn, phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội dừng xe đứng đợi M thì bị Công an phường Phương Canh kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tiến hành dẫn giải Phạm Minh T xác định, vị trí lấy ma túy và tiến hành khám xét Căn hộ 08.9 phát hiện trên nóc tủ quần áo trong phòng của T còn có 01 túi nilong chứa ma túy “ke” và 01 túi nilong chứa 10 viên ma túy kẹo. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn phát hiện trong phòng ngủ của Phạm Ngọc T: có 01 đĩa sứ màu trắng chứa ma túy “ke”, 01 ống hút, 01 thẻ là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy của T đã xào trước đó chưa kịp sử dụng thì bạn gọi nên đã để trên bàn ăn ở phòng khách rồi đi chơi. Vào thời điểm này, T đi chơi về đến nhà thì bị Cơ quan công an phát hiện, T tự giao nộp ra 01 viên ma túy “kẹo” đang cất giấu trong người.

* Vật chứng thu giữ:

  • + Thu giữ của Phạm Như T: 02 túi nilong màu trắng kích thước (2x2cm) chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động kiểu dáng I-phone XS max màu vàng, gắn 01 sim; 01 xe ô tô Toyota Innova, BKS: 30E-092.22
  • + Thu giữ khi khám xét tại phòng 809 chung cư Vimeco Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội: 01 túi nilong bên trong chứa 10 viên nén màu trắng; 01 túi nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 cân điện tử màu bạc; 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng; 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền nước ngoài; 01 thẻ cứng màu da cam có chữ HERMES; 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng (thu giữ tại phòng ngủ của Phạm Ngọc T).
  • + Thu giữ của Đỗ Minh T: 01 viên nén màu trắng hình ovan, kích thước (0,5x1)cm; 01 điện thoại di động kiểu dáng I-phone 14 promax màu tím, gắn 01 sim soos 0816826999.
  • * Tại Kết luận giám định số 84197/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
  • *Niêm phong ký hiệu M1 gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong màu trắng đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng: 1,486gam.
  • *Niêm phong ký hiệu M3 gồm:10 viên nén màu trắng bên trong 01 túi nilong đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 3,703gam; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 6,227gam; 01 cân điện tử màu bạc có dính ma túy loại Ketamine.
  • *Niêm phong ký hiệu M4 gồm: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền nước ngoài, 01 thẻ cứng màu da cam có chữ HERMES đều có dính ma túy loại Ketamine; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,144.
  • *Niêm phong ký hiệu M2 gồm: 01 viên nén màu trắng hình ô van là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,375gam.

Về nguồn gốc số ma tuý: Đỗ Minh T khai mua của một người có tài khoản telegram là “Ngọc Anh”, giao dịch mua bán tại khu vực đường Tú Mỡ đoạn ngã 3 giao cắt với đường Phạm Hùng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Về người mua ma túy: Đỗ Minh T khai bán cho bạn xã hội tên “M” ( không xác định được nhân thân), hai bên hẹn giao dịch tại số 57 Phố Nhổn, phường Phương Canh, Nam Từ Liêm, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, truy tìm người đối tượng tên M nhưng không có căn cứ điều tra xác minh xử lý.

Đối với Phạm Ngọc T: Quá trình ở tại phòng riêng không biết T cất giấu ma túy để bán, không thỏa thuận cho T sử dụng ma túy tại căn hộ nên không có căn cứ để xử lý về hành vi cung cấp địa điểm sử dụng ma túy.

Đối với 0,144 gam ma túy Ketamine còn lại trên đĩa trong phòng ngủ của T là của T tàng trữ để bán. Do T sau khi tự lấy ma túy sử dụng một ít và để ở phòng nên ngày 15/3/2024, Công an quận Nam Từ Liêm đã ra Quyết định Xử phạt hành chính đối với Phạm Ngọc T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 23 và điểm a, Khoản 2, Điều 23 Nghị Định 114/2013/NĐ-CP, mức phạt 5.000.000đồng.

Đối với hành vi T để đĩa ma túy tại phòng, không rủ rê lôi kéo, không cho T sử dụng ma túy mà do T tự thấy và lấy để sử dụng nên không đủ căn cứ xử lý T về hành vi cung cấp ma túy cho T sử dụng.

Đối với xe ô tô nhãn hiệu Toyota Innova màu bạc BKS:30E-092.22, số khung: RL4GW8EM6G3500522, số máy: 1TRA188485: quá trình điều tra T khai xe ô tô trên là do T thuê của anh Phạm Khánh D (Sinh năm: 1979 – HKTT: Khu nhà ở B, phường Y, quận H, Hà Nội) sau đó giao cho T làm lái xe chở khách hợp đồng. T và T khẳng định anh D không biết và không liên quan đến việc mua bán ma túy của T và T. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định xe ô tô Innova màu bạc BKS:30E-092.22, số khung: RL4GW8EM6G3500522, số máy: 1TRA188485 đứng tên chủ đăng ký xe là anh Phạm Khánh D, anh D đã xuất trình được giấy chứng nhận xe, hợp đồng thuê xe ô tô, cam đoan không liên quan đến ma túy và có đơn xin nhận lại tài sản. Ngày 12/01/2024, Cơ quan điều tra đã trả xe ô tô trên cho anh Phạm Khánh D. Anh Dưđã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.

Bản cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 03/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố bị cáo Đỗ Minh T về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm p khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Phạm Như T về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa :

Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo T thừa nhận toàn bộ số ma túy thu giữ tại nơi ở của bị cáo là của bị cáo mua về để bán kiếm lời, đối với 0,144 gam ma túy Ketamine còn lại trên đĩa trong phòng ngủ của T là của T tàng trữ để bán. Thành chỉ là người giúp bị cáo T bán ma túy cho khách và được bị cáo trả công. Bị cáo T thừa nhận hành vi giúp T bán ma túy để được T trả công 300.000 đồng nhưng chưa bán và thu được tiền thì đã bị bắt.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 03/04/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Minh T từ 8 năm 6 tháng đến 9 năm 6 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 999/2022/HS-PT ngày 23/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội buộc bị cáo Đỗ Minh T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 9 năm 6 tháng đến 10 năm 6 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Như T từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ Nhà Nước 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím, số Imei 355216226302720, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, số Imei 353100104856472, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong. Một gói tài sản (bên trong có 01 ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền nước ngoài, tờ tiền Mông cổ, mệnh giá 20 MNT, số Seri AH 9773076 đã được giám định, niêm phong vào một phong bì, có chữ ký giáp lai của Phạm Ngọc T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú, giám định viên Nguyễn Thị Thành và co dấu tròn màu đỏ của Công an phường Phương Canh). Tịch thu tiêu hủy: - 01 phong bì niên phong có chữ ký của Phạm Như Thành, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 phong bì niên phong có chữ ký của Phạm Như T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 gói niêm phong bằng giấy trên có chữ ký của Phạm Ngọc T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 gói niêm phong bằng giấy trên có chữ ký của Phạm Ngọc T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 gói niêm phong bằng giấy trên có chữ ký của Đỗ Minh T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành;

Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, bản Kết luận giám định số 84197/KLGĐ-PC09 ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội và phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.
  3. Những chứng cứ trên đây đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/12/2023, tại khu vực đường Tú Mỡ đoạn ngã 3 giao cắt với đường Phạm Hùng thuộc địa bàn phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội, Đỗ Minh Trường đã mua của đối tượng tên “Ngọc Anh” (không rõ nhân thân, lai lịch số ma túy gồm: 4,078 gam ma túy MDMA và 7,857 gam ma túy Ketamine, để bán kiếm lời. Vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 17/12/2023, T nói với Phạm Như T mang 1,486 gam ma túy Ketamine đi bán cho đối tượng “M” (hiện không xác định nhân thân, lai lịch) thì T trả cho T 300.000đồng tiền công. Đến khoảng 00 giờ 45 phút, tại số 57 Phố Nhổn, phường Phương Canh, Nam Từ Liêm, Hà Nội, khi Thành đang có hành vi cất giấu 1,486 gam ma túy Ketamine để bán cho M thì bị Công an phường Phương Canh kiểm tra, phát hiện bắt giữ cùng vật chứng như đã thu giữ.

    Bị cáo Đỗ Minh T là người mua ma túy về để bán, khi có khách hỏi mua, T đã giao ma túy cho T mang đi bán cho khách nên T phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy đã thu giữ được tại nơi ở của T và số ma túy thu giữ của T. Căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính khối lượng chất ma túy trong trường hợp các chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma túy. Đỗ Minh Trường có hành vi Tàng trữ trái phép tổng 4,078 gam ma túy MDMA và 7,857 gam ma túy Ketamine, để bán kiếm lời.

    Tỷ lệ phần trăm về khối lượng MDMA so với múc tổi thiểu đối với MDMA được quy định tại khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự cụ thể: 4.078 : 5 x 100% = 81,56%;

    Tỷ lệ phần trăm về khối lượng Ketamine (chất ma túy thể rắn) so với mức tổi thiểu đối với các chất ma túy ở thể rắn được quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự cụ thể: 7,857 : 20 x 100% = 39,285%.

    Tổng tỷ lệ phần trăm của 02 chất ma túy thu giữ của Trường là: 81,56% MDMA +31,13% Ketamine = 120.845%.

    Do vậy, hành vi của Đỗ Minh T đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

    Phạm Như T là người được Trường giao cho 1,486 gam ma túy Ketamine đi bán cho T nên T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy này. Hành vi của Phạm Như T phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

    Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

  4. Hành vi phạm tội của các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Như T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà Nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội nên đối với các bị cáo phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

    Trong vụ án này, bị cáo T] là người bỏ tiền mua ma túy về để bán, khi có khách mua T đã giao cho Phạm Như T đi bán ma túy cho T nên T phải chịu trách nhiệm chính. Bị cáo Phạm Như T là người đi bán ma túy cho T để hưởng lợi nên giữ vai trò đồng phạm giúp sức.

  5. Khi lượng hình phạt:
    • Đối với bị cáo T nhân thân đã có Bản án số 133/2022/HSST ngày 28/7/2022, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo T có ông bà ngoại là người có công được Nhà Nước tặng Huân chương kháng chiến nên bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo T nhân thân chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, sau khi bị bắt đã khai báo thành khẩn, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra khai ra hành vi phạm tội của bị cáo Trường nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    • Bị cáo Đỗ Minh T còn phải chấp hành hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 999/2022/HS-PT ngày 23/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Do vậy cần phải tổng hợp với hình phạt của bản án này để buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án theo quy định tại Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự.
  6. Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, kinh tế khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiên cho các bị cáo.
  7. Vật chứng:
    • Đối với: 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím, số Imei 355216226302720, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, số Imei 353100104856472, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong. Một gói tài sản (bên trong có 01 ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền nước ngoài, tờ tiền Mông cổ, mệnh giá 20 MNT, số Seri AH 9773076 đã được giám định, niêm phong vào một phong bì, có chữ ký giáp lai của Phạm Ngọc T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú, giám định viên Nguyễn Thị Thành và co dấu tròn màu đỏ của Công an phường Phương Canh). Đây là tài sản thu giữ của các bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà Nước.
    • Đối với: 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Phạm Như T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 phong bì niên phong có chữ ký của Phạm Như Thành, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 gói niêm phong bằng giấy trên có chữ ký của Phạm Ngọc T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 gói niêm phong bằng giấy trên có chữ ký của Phạm Ngọc Tùng, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 gói niêm phong bằng giấy trên có chữ ký của Đỗ Minh T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành. Đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy;
    • Việc xử lý các vật chứng trên theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  8. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
  9. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Như T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 56, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T 8 (tám) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của Bản án số 999/2022/HS-PT ngày 23/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội buộc bị cáo Đỗ Minh T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 9 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023 (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/03/2023 đến ngày 22/03/2023 của Bản án số 999/2022/HS-PT).

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Như Thành 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án đối với các bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Tịch thu sung quỹ Nhà Nước: 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím, số Imei 355216226302720, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, số Imei 353100104856472, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong. Một gói tài sản (bên trong có 01 ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền nước ngoài, tờ tiền Mông cổ, mệnh giá 20 MNT, số Seri AH 9773076 đã được giám định, niêm phong vào một phong bì, có chữ ký giáp lai của Phạm Ngọc T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú, giám định viên Nguyễn Thị Thành và co dấu tròn màu đỏ của Công an phường Phương Canh).

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niên phong có chữ ký của Phạm Như T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 phong bì niên phong có chữ ký của Phạm Như T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 gói niêm phong bằng giấy trên có chữ ký của Phạm Ngọc T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 gói niêm phong bằng giấy trên có chữ ký của Phạm Ngọc Tùng, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành; 01 gói niêm phong bằng giấy trên có chữ ký của Đỗ Minh T, cán bộ Nguyễn Vũ Thanh Tú và giám định viên Nguyễn Thị Thành.

Các vật chứng trên hiện Kho bạc Nhà Nước quận Nam Từ Liêm đang quản lý theo Biên bản giao nhận tài sản số 07/2024/BBBG-KTNN ngày 25/04/2024 và Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đang quản lý theo biên bản bàn giao vật chứng số 161 ngày 9/04/2024.

Các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Như T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kê từ ngày tuyên án.

Nơi nhận :

  • - Các bị cáo
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND TPHN;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Trung Lập

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HSST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 118/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Như T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger