|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2024/DS-ST
Ngày: 31/5/2024
V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Hoàng Vũ
- Bà Nguyễn Thị Thanh Hương
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 107/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024về “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 248 ngày 10/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H sinh năm: 1968
Địa chỉ: Số B, đường M, P. A, Q. N, TP ..
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Hữu Bình s năm: 1977 (có mặt)
Ông Hoàng Duy N sinh năm: 1994 (có mặt)
Ông Nguyễn Sỹ B sinh năm: 1996
Cùng địa chỉ: Số A T, P. H, Q. N, TP ..
- Bị đơn: Ông Mai Tiến C sinh năm: 1984 (vắng mặt)
Bà Lê Thanh H1 sinh năm: 1984 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: C, khu V, P. A, Q. N, TP ..
Cùng địa chỉ hiện tại: 328, X, KDC H, khu V, P. A, quận N, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – Ông Trịnh Hữu B1, ông Hoàng Duy N trình bày: Từ mối quan hệ quen biết với phía bị đơn ông Mai Tiến C và bà Lê Thanh H1. Khi biết ông có nhu cầu muốn mua thêm đất để mở rộng thửa đất ở đường N, P. A, Q. N, TP .. Ông C đã giới thiệu có quen biết với chủ thửa đất ông Nguyễn Tấn T có thửa đất chiều ngang mặt tiền đường N 07m (ngang) đang có nhu cầu muốn chuyển nhượng. Để mua được thửa đất này ông C cam kết sẽ đứng ra thay ông để giao dịch chuyển nhượng. Do tin tưởng phía ông C nên ông đã giao cho phía ông C số tiền cụ thể như sau:
- + Lần 01: Ngày 29/11/2019 ông có đưa cho ông C số tiền 2.570.000.000 đồng. Biên nhận ghi ngày 29/11/2019.
- + Lần 02: Ngày 16/01/2020 ông C tiếp tục nhận của ông thêm số tiền 1.500.000.000 đồng. Biên nhận ghi ngày 16/9/2020.
Tổng số tiền mà ông Mai Tiến C đã nhận của ông là 4.070.000.000 đồng.
Ông chờ đợi mãi mà không thấy ông C gọi đi ký hợp đồng chuyển nhượng đất với phía ông Nguyễn Tấn T. Ông đã nhiều lần liên lạc, gọi điện, nhắn tin để yêu cầu ông C phải chốt ngày đi ký hợp đồng chuyển nhượng đất với phía ông T nhưng ông C tìm mọi lý do để trì hoãn việc ký hợp đồng. Ngày 19/01/2022 phía bị đơn ông C đã làm tờ cam kết về việc nhận tiền số tiền 2.570.000.000 đồng và số tiền 1.500.000.000 đồng. Tổng số tiền là 4.070.000.000 đồng cam kết sẽ hoàn trả lại tiền cho ông chậm nhất vào cuối tháng 02/2022. Hết thời hạn như cam kết nhưng ông không thấy phía bị đơn chốt ngày ký hợp đồng chuyển nhượng hoặc trả lại tiền như cam kết. Qua tìm hiểu nhiều nơi ông đã tìm đến tận nhà của ông T thì mới biết được sự thật là ông C chỉ lừa ông mà không hề liên lạc với phía ông T để bàn bạc thương lượng mua bán đất thay cho ông.
Do ông báo sẽ làm đơn tố cáo hình sự đến cơ quan Công an nên vợ chồng ông C và bà H1 lo sợ nên đã trả thêm số tiền là 50.000.000 đồng sau đó trả tiếp số tiền 500.000.000 đồng, sau đó trả tiền nhỏ giọt đến hết ngày 28/10/2022 thì được thêm tổng cộng 750.000.000 đồng, tổng cộng là 1.300.000.000 đồng. Sau đó thì không trả thêm số tiền nào nữa.
Tính đến ngày 28/10/2022 thì ông C còn chiếm đoạt của ông số tiền 2.770.000.000 đồng đến nay. Ông đã nhiều lần liên hệ để phía vợ chồng ông C và bà H1 thanh toán cho ông số tiền gốc còn lại nhưng ông C và bà H1 cố tình tránh né nhằm chiếm đoạt số tiền của ông.
Do vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ông C khởi kiện đến Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết:
- + Buộc bị đơn ông Mai Tiến C và bà Lê Thanh H1 cùng có trách nhiệm liên đới trả lại cho ông Nguyễn Văn H số tiền nợ gốc là 2.770.000.000 đồng và lãi suất chậm trả, với mức lãi suất 1%/tháng (tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận), tạm tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 01/01/2024 là 702.000.000 đồng. Tổng số nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 01/01/2024 là 3.472.000.000 đồng.
- + Và lãi phát sinh trên số nợ gốc cho đến khi thanh toán dứt số tiền nợ gốc nêu trên, mức lãi là 1%/tháng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo hợp lệ đối với bị đơn ông Mai Tiến C, bà Lê Thanh H1 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 07/3/2024 và ngày 29/3/2024 nhưng ông C, bà H1 đều vắng mặt không lý do. Mặt khác, đại diện nguyên đơn có yêu cầu không qua thủ tục hòa giải, đề nghị đưa vụ án ra xét xử nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa,
Đại diện nguyên đơn trình bày:
- + Ông Nguyễn Văn H yêu cầu ông Mai Tiến C trả số tiền nợ gốc: 2.770.000.000 đồng và lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trên số tiền nợ gốc từ ngày 01/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (31/5/2024) và lãi phát sinh từ ngày 01/6/2024 cho đến khi ông C thanh toán xong số tiền nợ gốc, với mức lãi suất: 10%/năm.
- + Rút lại yêu cầu khởi kiện đối với bà Lê Thanh H1 về việc yêu cầu bà cùng có trách nhiệm liên đới với ông Mai Tiến C trả nợ gốc và lãi cho ông Nguyễn Văn H.
Bị đơn vắng mặt không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ông Nguyễn Văn H và ông Mai Tiến C có thỏa thuận về việc ông C đứng ra thay ông H giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chủ đất, ông H đã giao tiền cho ông C theo các biên nhận giao tiền. Quá trình thực hiện giao dịch, ông C không thực hiện đúng cam kết và nợ ông H nên ông H có đơn khởi kiện, bị đơn cư trú tại quận N nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp đòi lại tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
2]Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Mai Tiến C, bà Lê Thanh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên tòa vào ngày 10/5/2024 và ngày 31/5/2024 nhưng ông bà đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông bà theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
3] Về nội dung:
3.1. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu ông Mai Tiến C trả tổng số nợ gốc 2.770.000.000 đồng.
Nhận thấy, nguyên đơn khởi kiện và cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Cụ thể:
- Theo Biên nhận ngày 29/11/2019 thể hiện ông Mai Tiến C có nhận của ông Nguyễn Văn Hợp s1 tiền: 2.570.000.000 đồng.
- Biên nhận ngày 16/01/2020 thể hiện ông Mai Tiến C có nhận của anh Nguyễn Văn Hợp s1 tiền: 1.500.000.000 đồng.
- Đến ngày 19/01/2022 các bên lập Tờ cam kết thể hiện ông Mai Tiến C cam kết trả lại tiền thiếu cho anh Nguyễn Văn H số tiền là: Biên nhận ngày 29/11/2019 số tiền 2.570.000.000 đồng, Biên nhận ngày 16/01/2020 số tiền là 1.500.000.000 đồng, thời gian trả: chậm nhất cuối tháng 02 năm 2022.
- Bên dưới góc bên phải các biên nhận trên và tờ cam kết có chữ ký và ghi họ tên Mai Tiến Chu .
Từ đó, cho thấy ông C đã nhận tiền và nợ ông H là có thật và phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ.
Nhưng sau đó ông C không thực hiện giao dịch thay ông H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chủ đất và không trả tiền như cam kết.
Tuy nhiên, theo nguyên đơn thừa nhận từ khi ông làm đơn tố cáo hình sự đến công an nên ông C lo sợ đã trả cho ông số tiền 50.000.000 đồng, sau đó trả tiếp số tiền 500.000.000 đồng, sau đó trả tiền nhiều lần đến hết ngày 28/10/2022 trả thêm 750.000.000 đồng. Tổng cộng các đợt ông C đã trả là 1.300.000.000 đồng, sau đó không trả thêm cho ông Hợp số tiền nào.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông C, bà H1 tham gia hòa giải và tham gia các phiên tòa nhưng ông bà vẫn vắng mặt nên Tòa án không có ý kiến gì của ông bà gửi cho Tòa án. Do đó, Tòa án căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết theo quy định.
Xét thấy, sau khi ông C nhận tiền của ông H xong, ông C không thực hiện đúng thoả thuận giao dịch chuyển nhượng thay cho ông H như cam kết, ông C đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ chậm nhất là ngày 28/02/2022 theo thoả thuận tại Tờ cam kết ngày 19/01/2022 tổng số tiền 4.070.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông H đã thừa nhận ông C đã trả cho ông nhiều đợt đến ngày 28/10/2022 với tổng số tiền 1.300.000.000 đồng. Số tiền này trừ vào nợ gốc: 4.070.000.000 đồng nên ông C còn nợ 2.770.000.000 đồng.
Như vậy, ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên việc ông H khởi kiện yêu cầu ông C trả số tiền nợ gốc 2.770.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
3.2. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu bà Lê Thanh H1 cùng có trách nhiệm liên đới với ông Mai Tiến C trả nợ gốc và lãi cho ông Nguyễn Văn H. Tại phiên toà, đại diện nguyên đơn rút lại yêu cầu này nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
3.3. Về mức lãi suất và thời gian tính lãi: Ông H yêu cầu ông C trả lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm từ ngày 01/11/2022 đến ngày 31/5/2024 và lãi phát sinh từ ngày 01/6/2024 cho đến khi dứt nợ, mức lãi 10%/năm.
Nhận thấy, giữa ông H và ông C giao nhận tiền với nhau không thoả thuận lãi suất. Tuy nhiên, việc ông C cam kết tổng số tiền nợ gốc 4.070.000.000 đồng chậm nhất là ngày 28/02/2022. Nhưng đến ngày 28/10/2022 ông C đã trả nhiều lần tổng số tiền 1.300.000.000 đồng, còn nợ 2.770.000.000 đồng nợ gốc.
Như vậy, nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ tính từ ngày 01/11/2022 đến khi ông C thanh toán dứt nợ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật dân sự.
Đối với mức lãi suất: do các bên không thoả thuận lãi suất nên theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự thì mức lãi suất áp dụng theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự là 10%/năm (0.83%/tháng) tính từ thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Như vậy: Số tiền lãi đối với số tiền 2.770.000.000 đồng tính từ ngày 01/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (31/5/2024) là:
01 năm 06 tháng 30 ngày x 2.770.000.000 đồng x 0.83% = 436.829.000 đồng.
Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tính lãi với thời gian và mức lãi suất nêu trên.
Từ những chứng cứ và phân tích trên cho thấy: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận một phần. Buộc ông Mai Tiến C có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn H tổng số tiền: 3.206.829.000 đồng (Trong đó: nợ gốc là: 2.770.000.000 đồng và nợ lãi tạm tính đến ngày 31/5/2024 là 436.829.000 đồng) và lãi phát sinh từ ngày 01/6/2024 đến khi ông C thanh toán dứt nợ cho ông H, mức lãi suất trên số tiền nợ gốc là 10%/năm.
* Về án phí dân sự sơ thẩm:
- + Bị đơn ông Mai Tiến C phải chịu 96.136.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- + Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H được nhận lại 50.720.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000823 ngày 19/01/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1] Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 97, Điều 147, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2]Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H.
Buộc bị đơn ông Mai Tiến C có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn H tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024: 3.206.829.000 đồng (Trong đó: nợ gốc là: 2.770.000.000 đồng và nợ lãi tạm tính đến ngày 31/5/2024 là 436.829.000 đồng) và lãi phát sinh từ ngày 01/6/2024 cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 (10%/năm) Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H đối với bà Lê Thanh H1 về việc cùng có trách nhiệm liên đới với ông Mai Tiến C trả nợ gốc và lãi cho ông Nguyễn Văn H.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- + Bị đơn ông Mai Tiến C phải chịu 96.136.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- + Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H được nhận lại 50.720.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000823 ngày 19/01/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Yến Nhi |
7
Bản án số 118/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 118/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc bị đơn ông Mai Tiến C có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn H tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024: 3.206.829.000 đồng
