Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2024/HS-ST

Ngày: 30-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Khánh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Thông

Bà Lương Thị Bảo Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Trần Huỳnh Như T - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2024/TLST-HS ngày 03-7-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 12-7-2024, đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Công H, sinh năm 1986 tại Bình Định. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định. Nơi ở hiện nay: số B đường H, tổ C, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Công T1, sinh năm 1955 và bà Ngô Thị S, sinh năm 1962; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 người con; có vợ tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1992, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/05/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/07/2006.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 27/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, đến ngày 02/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay.

2. Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1977 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn N1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); bị cáo là con thứ sáu trong gia đình có 07 người con; có vợ tên Đặng Thị Tuyết N2, sinh năm 1973, có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:Ngày 31/07/1996 bị Tòa án

nhân dân thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/09/1997.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 31/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, đến ngày 02/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay.

· Bị hại: ông Vương Đình T2, sinh năm 1953 (chết ngày 17/12/2022).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Thật: bà Dương Thị C1, sinh năm 1953 (vợ của bị hại). Địa chỉ: khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Mai Văn T3, sinh năm 1979. Địa chỉ: A khu phố G, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Chị Trần Thị Diễm T4, sinh năm 1974. Địa chỉ: A đường N, tổ H, khu phố A, phường E, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người làm chứng:

1/ Ông Lê Mộng T5, sinh năm 1950. Địa chỉ: Khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

2/ Chị Nguyễn Hoàng Ngọc N3, sinh năm 2006. Địa chỉ: Khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

3/ Lý Thanh S1, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện A, Kiên Giang.

(Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Công H, có giấy phép lái xe hạng C số [...] do sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 19/10/2022, là tài xế lái xe thuê cho anh Mai Văn T3, sinh năm 1979, ngụ tại khu phố G, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh, và Nguyễn Văn Ú có giấy phép lái xe hạng A1 số P851551 do sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 19/10/022.

Khoảng 04 giờ 00 ngày 17/12/2022, Huỳnh Công H điều khiển xe ôtô tải mang biển số 51D - 051.97 đi từ thành phố Hồ Chí Minh về thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, khi xe ôtô tải đi đến Km 1823 + 700 Quốc lộ A, thuộc khu phố N, phường S, thành phố L, H điều khiển xe ôtô di chuyển nhanh trong làn đường hỗn hợp với tốc độ 50 km/h, thì xảy ra va chạm với xe môtô biển số 60U6- 9609 do ông Vương Đình T2, sinh năm 1953, nơi thường trú: khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai điều khiển đang lưu thông cùng chiều bên phải xe ôtô, trên xe môtô của ông T2 có chở theo 02 người khiếm thị ngồi phía sau là ông Lê Mộng T5, sinh năm 1950, nơi thường trú: khu phố B, phường B, thành phố L và chị Nguyễn Hoàng Ngọc N3, sinh năm 2006, nơi thường trú: khu phố T, phường X, thành phố L. Cùng lúc này phía trước đi ngược chiều lưu thông với xe của H, ông T2 là xe môtô biển số 53R7- 8917 do Nguyễn Văn Ú điều khiển vừa tới thì cũng đụng vào xe của ông T2 làm xe ông T2 ngã ra đường. Sau tai nạn, ông T2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ. Đến 09 giờ 00 cùng ngày thì ông T2 tử vong, ông T5, chị N3 bị thương nhẹ.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lúc 07 giờ 30 phút ngày 17/12/2023 và sơ đồ hiện trường do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L lập, trên đường Q theo hướng từ thành phố Hồ Chí Minh đi Bình Thuận xác định như sau:

- Đường được chia làm 2 phần đường bằng nhau, có dãy phân cách cứng, rộng 08m, phần đường được chia thành 02 làn đường bằng nhau, bằng vạch sơn đứt quãng và rộng 4m, làn đường bên phải sát mép đường là vị trí xảy ra tai nạn. Lấy mép đường bên phải theo hướng thành phố Hồ Chí Minh đi Bình Thuận làm chuẩn, cột điện số 14 cách mép đường bên phải 7,6m làm mốc hiện trường.

- Vị trí xe ôtô tải biển số 51D – 051.97 dừng lại sau tai nạn đầu xe hướng về Bình Thuận. T6 trục bánh xe trước bên trái cánh mép đường bên phải 02m, tâm trục bánh sau bên trái cánh mép đường bên phải 02m, cách tâm trục bánh sau môtô 60U6 - 9609 là 66m.

- Vị trí xe môtô biển số 60U6 – 9609 dừng lại sau tai nạn: đầu xe hướng về thành phố Hồ Chí Minh. T6 trục bánh trước xe cách mép đường bên phải 2,1m. T6 trục bánh sau xe cách mép đường bên phải 1,1m.

- Vị trí xe môtô biển số 53R7-8917 dừng lại sau tai nạn: đầu xe hướng về thành phố Hồ Chí Minh. T6 trục bánh trước xe cách mép đường bên phải 0,3m. T6 trục bánh sau xe cách mép đường bên phải 0,6m.

- Vết cày xe môtô biển số 60U6 – 9609 tại hiện trường: đầu vị trí theo hướng Thành phố Hồ Chí Minh đi Bình Thuận, cách mép đường bên phải là 0,9m, cách tâm trục bánh sau là 4,4m, vết cày đứt quảng.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông lúc 08 giờ 55 phút ngày 17/12/2023 do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L lập, đối với xe môtô biển số 60U6-9609, có các dấu vết liên quan đến vụ tai nạn như sau: Đầu dè chắn bùn trước có vết trầy, dè chắn bùn sau của bánh trước lệch khỏi vị trí ban đầu, theo hướng từ trái qua phải. Đầu tay nắm bên trái có dấu vết mài mòn kim loại...

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, lúc 09 giờ 25 phút ngày 17/12/2023 do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L lập đối với xe môtô biển số 53R3-8917, có các dấu vết trên phương tiện như sau: Đầu tay nắm tay thắng bên phải có dấu vết mài mòn kim loại. Ốp đèn chuyển hướng bên phải có dấu vết trầy xước, bể, ốp đèn trước bên phải có vết máu...

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, lúc 08 giờ 30 phút ngày 17/12/2023 do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L lập đối với xe ôtô biển số 51D – 051.97, có các dấu vết trên phương tiện như sau: mặt hông đầu góc phía trên bên phải thùng xe có dấu vết tróc sơn, trầy xướt dài 15cm, cách mặt đường 77cm.

Tại bản kết luận giám định tư pháp số 233/TTĐKXCG ngày 11/01/2023 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới thuộc Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đ, đối với xe tải mang biển số 51D – 051.97, xe môtô 60U6- 9609 và xe môtô 53R7 - 8917 kết luận: căn cứ vào biên bản khám phương tiện thì những hư hỏng trên là do tai nạn. Vậy trước khi xảy ra tai nạn, các phương tiện trên đạt an toàn kỹ thuật và đủ điều kiện tham gia lưu thông.

Tại kết luận giám định số 824/KLGĐ – KTHS ngày 18/05/2023, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Căn cứ vào các dấu vết, vật chứng trong hồ sơ vụ tai nạn giao thông gửi giám định: phần đường bên phải theo hướng thành phố Hồ Chí Minh đi tỉnh Bình Thuận là phần đường nơi xảy ra va chạm giữa xe ô tô tải mang biển số 51D- 051- 97 và xe môtô mang biển số 60U6- 9609. Giữa xe môtô mang biển số 60U6- 9609 và xe môtô mang biển số 53R7 - 8917.

Tại kết luận giám định số 43/KLGĐ – KTHS ngày 20/01/2023, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

+ Dấu vết trượt xước, mất sơn màu đỏ tại cạnh trước chân chống trước bên phải cần cẩu của xe ô tô tải mang biển số 51D-051.97 có chiều từ trước ra sau; phù hợp với dấu vết trượt xước, dính chất màu đỏ tại mặt sau đầu ngoài tay cầm lái trái của xe mô tô mang biển số 60U6-9609 có chiều từ sau ra trước. Đây cũng là vùng va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.

+ Dấu vết trượt xước, nứt vỡ, biến dạng tại yếm chắn gió phải của xe mô tô mang biển số 60U6-9609 chiều từ trước ra sau, phải qua trái; phù hợp với dấu vết nứt vỡ ốp sườn bên phải của xe mô tô mang biển số 53R7-8917 có chiều từ trước ra sau, phải qua trái. Đây cũng là vùng va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.

+ Dấu vết trượt xước, biến dạng, mài mòn tại các chi tiết bên trái: vè chắn bùn, cần gương chiếu hậu, đầu tay cầm lái, yếm chắn gió cùng khung gác chân trước của xe mô tô mang biển số 60U6-9609 có chiều từ trái qua phải; phù hợp va chạm mặt đường.

+ Dấu vết trượt xước, nứt vỡ, mài mòn tại các chi tiết bên phải: kính chiếu hậu, nắp hộp đầu thắng, nắp trước tay lái, yếm chắn gió, bàn đạp thắng cùng khung gác chân trước của xe mô tô mang biển số 53R7-8917 có chiều từ phải qua trái; phù hợp va chạm mặt đường.

+ Ngoài ra không phát hiện dấu vết va chạm của xe mô tô mang biển số 60U6- 9609 với phương tiện nào khác.

Tại kết luận giám định số 755/KL-KTHS ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tốc độ phương tiện giao thông xe ô tô tải biển số 51D-051.97 gắn thiết bị giám sát hành trình hiệu SAGOSTAR model: GPS-S4G, IMEI : 10341122 tại thời điểm ngay trước khi xảy ra vụ tai nạn giao thông (06 giờ 32 phút 51 giây ngày 17/12/2022) là: 50 km/h (kilomet/giờ).

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 2737/KL - KTHS, ngày 16/02/2023, của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của ông Vương Đình T2: Chấn thương bụng kín, vỡ lách, dập tụy, xuất huyết nội.

Tại Cáo trạng số 117/CT-VKS-LK ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố các bị cáo Huỳnh Công HNguyễn Văn Ú về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo H mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Ú mức án từ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã thực hiện xong trách nhiệm bồi thường thiệt hại; buộc bị cáo Ú tiếp tục bồi thường thiệt hại số tiền còn lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Trên cơ sở lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, các bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 06 giờ 30 ngày 17/12/2022, bị cáo Huỳnh Công H điều khiển xe ôtô tải biển số 51D-051.97 đi từ thành phố Hồ Chí Minh về tỉnh Bình Thuận, đến Km 1823+700 quốc lộ A thuộc khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, khi lưu thông trong làn đường hỗn hợp đã không giữ khoảng cách an toàn khi vượt xe khác, thiếu quan sát nên để phần cạnh trước chân chống trước bên phải cần cẩu của xe ô tô tải va chạm với đầu ngoài tay cầm lái trái của xe mô tô biển số 60U6-9609 do ông Vương Đình T2 điều khiển đi theo hướng cùng chiều, cùng lúc đó phía trước có xe môtô biển số 53R7-8917 do bị cáo Nguyễn Văn Ú điều khiển đi trái đường theo chiều ngược lại đã đụng vào xe của ông T2 làm cho cả 02 xe ngã xuống đường, hậu quả ông T2 đã tử vong sau đó.

Mặc dù quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn Ú luôn cho rằng: do ông T2 không làm chủ được tay lái nên để tay lái xe mô tô va chạm vào thành xe tải và ngã xuống đường, ngay lúc đó bị cáo vừa đi tới do khoảng cách quá gần nên bị cáo không tránh kịp, đã để đầu bánh trước của xe mô tô đụng trúng đuôi đèn sau xe ông T2. Lời trình bày của bị cáo Ú không phù hợp với các chứng cứ khách quan của vụ án, cụ thể: tại Kết luận giám định số 43/KLGĐ-KTHS ngày 20/01/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Dấu vết trượt xước, nứt vỡ, biến dạng tại yếm chắn gió phải của xe mô tô mang biển số 60U6-9609 chiều từ trước ra sau, phải qua trái; phù hợp với dấu vết nứt vỡ ốp sườn bên phải của xe mô tô mang biển số 53R7-8917 có chiều từ trước ra sau, phải qua trái. Đây cũng là vùng va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện. Chứng tỏ phần thân xe mô tô của bị cáo Ú đã đụng vào phần yếm chắn gió phía trước xe mô tô của ông T2 ngay sau khi tay lái xe ông T2 va chạm vào chân chống cần cẩu của xe tải, không đúng như bị cáo Ú đã khai nhận là xe của ông T2 đã ngã xuống đường. Tại phiên tòa bị cáo Ú thừa nhận lỗi của bị cáo làm cho tai nạn xảy ra là do bị cáo đi trái đường, bị hại phải chạy xe tránh bị cáo nên đã va chạm với xe của bị cáo H.

Hành vi vượt xe không đảm bảo an toàn của bị cáo Huỳnh Công H đã vi phạm khoản 2 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008; hành vi điều khiển xe đi trái chiều của bị cáo Nguyễn Văn Ú đã vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông

đường bộ năm 2008, đã gây tai nạn làm chết một người với lỗi vô ý do cẩu thả. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Huỳnh Công H và bị cáo Nguyễn Văn Ú phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 117/CT-VKS-HS ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai cho các bị cáo.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hậu quả gây ra là nghiêm trọng, việc các bị cáo không chấp hành các quy tắc an toàn giao thông đường bộ, đã xâm phạm đến trật tự giao thông công cộng, gián tiếp gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của người tham gia giao thông. Trong vụ án này, lỗi hoàn toàn thuộc về các bị cáo, trong đó lỗi chính của vụ tai nạn là do bị cáo Ú đi không đúng phần đường, chiều đường dẫn đến bị hại phải tránh bị cáo và xe bị hại va chạm với xe ô tô tải của bị cáo H, sau đó xe của bị cáo đã va chạm trực tiếp với xe bị hại; còn đối với bị cáo H khi vượt không đảm bảo nên mặc dù phần đầu xe ô tô đã qua khỏi xe mô tô của ông T2 nhưng do khoảng cách quá gần đã khiến chân chống cần cẩu chạm vào tay lái xe mô tô ông T2 dẫn đến sự việc va chạm với xe mô tô của bị cáo Ú, hậu quả làm bị hại ông Vương Đình T2 tử vong. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của các bị cáo đã thực hiện, nhằm giáo dục các bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H và bị cáo Ú đã từng vi phạm pháp luật nhưng đã được xóa án tích; chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phường; Riêng bị cáo H đã tích cực bồi thường thiệt hại và được đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin bãi nại dân sự và xin giảm nhẹ hình trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo H theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và bị cáo Ú theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, bị cáo và gia đình bị hại xác nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 2.000.000 đồng, nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo thêm tình tiết giảm nhẹ bồi thường thiệt hại theo điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6]Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính, phải đi làm thuê và phải nuôi con nhỏ, nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Từ những phân tích về tính chất, vai trò, mức độ nguy hiểm, hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, xét thấy: bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên việc HĐXX áp dụng Điều 65 của BLHS đối với bị cáo H vẫn đảm bảo được mục đích giáo dục và ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, cũng như đảm bảo phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[8] Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Ú phải bồi thường số tiền 33.000.000 đồng cho gia đình bị hại.

[9] Về vật chứng:

[9.1] Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số [...] do sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 19/10/022 mang tên Huỳnh Công H, hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án: do bị cáo H không bị phạt bổ sung nên cần trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo.

[9.2] Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số P851551 do sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 19/10/022 mang tên Nguyễn Văn Ú, hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như đề nghị mức hình phạt là phù hợpvới nhận định trên của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Công HNguyễn Văn Ú phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Huỳnh Công H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ú 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam trước đó từ ngày 31/12/2023 đến ngày 02/02/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ú phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 33.000.000 đồng. Bị cáo Huỳnh Công H đã giải quyết xong phần trách nhiệm bồi thường nên không xem xét giải quyết.

3. Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Công H 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số [...] do sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 19/10/2022 mang tên Huỳnh Công H (hiện đang do Tòa án lưu giữ).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Ú 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số P851551 do sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 16/12/2003 mang tên Nguyễn Văn Ú (hiện đang do Tòa án lưu giữ).

4. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Vân Khánh

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Long Khánh;
  • - CQCSĐT CA thành phố Long Khánh;
  • - CQTHAHS CA thành phố Long Khánh;
  • - CCTHADS thành phố Long Khánh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo, đại diện hợp của bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 118/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Công Hiển và Nguyễn Văn Út phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Huỳnh Công Hiển 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hiển cho Ủy ban nhân dân phường Trung Mỹ Tây, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Út 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam trước đó từ ngày 31/12/2023 đến ngày 02/02/2024. 2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Út phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 33.000.000 đồng. Bị cáo Huỳnh Công Hiển đã giải quyết xong phần trách nhiệm bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger