|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 118/2024/DS-ST Ngày: 30-7-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Kim Oanh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Truyện.
- 2. Bà Huỳnh Thị Kim Thơ.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Thảo Nguyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 448/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 231/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 184/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S;
- Địa chỉ: Lầu H, số B - 268, N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đặng Minh T, sinh năm: 1973; địa chỉ: B, L, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Anh Cao Văn Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh T và anh Đ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh T trình bày:
Ngày 09/11/2017, anh Đ có ký với Ngân hàng TMCP S (Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Căn cứ thu nhập của ông Đ, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Tới ngày 02/02/2019 Ngân hàng đồng ý nâng hạn mức sử dụng lên 58.000.000 đồng (Năm mươi tám triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, anh Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.577.419.755 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, anh Đ đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.565.805.888 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng). Do anh Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 31/12/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của anh Đ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 26 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 30/7/2024 anh Đ còn nợ các khoản:
- - Nợ gốc: 59.451.305 đồng.
- - Lãi quá hạn: 47.441.517 đồng.
- Tổng cộng: 106.892.822 đồng.
Nay, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Toà án giải quyết buộc anh Cao Văn Đ phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 106.892.822 đồng (trong đó nợ gốc là 59.451.305 đồng và tiền lãi 47.441.517 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi anh Đ trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
- Bị đơn anh Cao Văn Đ: đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ, biết nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có ý kiến, cũng không phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
Các tài liệu trong hồ sơ đã được công khai theo Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 19 tháng 6 năm 2024.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định, bị đơn chấp hành chưa đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 466, 468, 469, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc anh Cao Văn Đ trả cho Ngân hàng tiền vay còn nợ tính đến ngày 30/7/2024 là 106.892.822 đồng và lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 30/7/2024 cho đến khi trả nợ xong theo mức lãi suất trên hợp đồng tín dụng ngày 09/11/2017.
- - Về án phí: Buộc anh Cao Văn Đ chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Cao Văn Đ phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 106.892.822 đồng (trong đó nợ gốc là 59.451.305 đồng và tiền lãi 47.441.517 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi anh Đ trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Ngoài ra, các đương sự không ai có yêu cầu nào khác nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn có địa chỉ ở ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Anh Đặng Minh T là đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vắng mặt và đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Cao Văn Đ là bị đơn đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T và anh Đ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4]. Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Cao Văn Đ phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 106.892.822 đồng (trong đó nợ gốc là 59.451.305 đồng và tiền lãi 47.441.517 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi anh Đ trả hết nợ cho Ngân hàng, Hội đồng xét xử nhận định:
[4.1]. Vào ngày 09/11/2017, anh Cao Văn Đ có mở thẻ tín dụng Ngân hàng S – Chi nhánh Quận T theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 09/11/2017, Số thẻ: 472075 - 2432; Hạn mức thẻ: 40.000.000. Đến ngày 02/02/2019 Ngân hàng đồng ý nâng hạng mức sử dụng lên 58.000.000 đồng. Tài sản đảm bảo: tín chấp là có thật và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[4.2]. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh Cao Văn Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền đến ngày 13/02/2023 là 1.577.419.755 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay anh Cao Văn Đ đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.565.805.888 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng anh Cao Văn Đ vẫn không có thiện chí trả nợ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/7/2024, anh Cao Văn Đ còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 106.892.822 đồng (trong đó nợ gốc là 59.451.305 đồng và tiền lãi 47.441.517 đồng).
[4.3]. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh Cao Văn Đ đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng như cam kết. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu anh Cao Văn Đ có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để anh Cao Văn Đ trả nợ. Tuy nhiên, anh Cao Văn Đ vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại hợp đồng đã ký. Do anh Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Đ có nghĩa vụ trả các khoản nợ đã vay bao gồm gốc và lãi cho Ngân hàng với số tiền gốc và lãi 106.892.822 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[5]. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xác định, anh Cao Văn Đ còn nợ Ngân hàng S số tiền 106.892.822 đồng đồng, (trong đó nợ gốc là 59.451.305 đồng và tiền lãi 47.441.517 đồng) nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Đ có nghĩa vụ trả nợ bao gồm nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng là có cơ sở. Do đó, chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S, buộc anh Cao Văn Đ có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng với số tiền tổng cộng 106.892.822 đồng đồng, (trong đó nợ gốc là 59.451.305 đồng và tiền lãi 47.441.517 đồng).
[6]. Đối với ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng, án phí, lệ phí Tòa án thì anh Đ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468, 469, 470 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng, án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc anh Cao Văn Đ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S tổng cộng số tiền vay còn nợ là 106.892.822 đồng đồng, (trong đó nợ gốc là 59.451.305 đồng và tiền lãi 47.441.517 đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm anh Cao Văn Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà anh Đ phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
- - Về án phí:
- + Ngân hàng TMCP S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 1.576.726 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012940 ngày 20/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.
- + Anh Cao Văn Đ phải chịu 5.344.641 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Kim Oanh |
Bản án số 118/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 118/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
