|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2024/HS-ST.
Ngày: 29-5-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lưu Thị Thôi
- Bà Trần Thị Thanh Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/HSST-QĐ ngày 16/5/2024 đối với bị cáo:
Lê Nguyễn Duy T (tên gọi khác: Không có) - sinh ngày 21/02/2001, tại Bình Thuận; Nơi ĐKHKTT: Khu phố G, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Hương T2, sinh năm 1977; vợ, con chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo hiện đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024 tại nhà tạm giữ Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 26/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Lê Nguyễn Duy T đi xe buýt từ phường M đến khu vực gần siêu thị L thuộc phường P, thành phố P tìm một người đàn ông chạy xe thồ (không rõ nhân thân) nhờ chỉ chỗ mua ma tuý đá thì người đàn ông này đồng ý và chở T đi đến một địa điểm (T không biết tên đường), giới thiệu cho T một nam thanh niên (không rõ nhân thân) và nói nam thanh niên trên sẽ bán ma tuý cho T, nói xong người đàn ông trên đi về. T đi đến gặp nam thanh niên và hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá thì nam thanh niên đồng ý nhận tiền và giao cho T 01 gói nylon bên trong có 04 gói ma tuý đá. Mua được ma tuý, T bỏ vào bao thuốc lá hiệu Cotab rồi đi xe thồ về lại siêu thị L. Sau đó, T đi xe Buýt về lại phường M để tìm nơi sử dụng ma tuý. Trường X trước nhà thờ T4 rồi đi bộ đến trước sân bóng đá Quốc Đạt trên đường N thuộc khu phố E, phường M thì bị tổ tuần tra thuộc Đồn biên phòng M1 - Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh B kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay phải của T có 01 gói thuốc lá hiệu Cotab bên trong gói thuốc lá có 01 gói nylon bên trong có 04 gói nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý) nên Tổ tuần tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa T và tang vật về trụ sở để làm việc.
Quá trình điều tra, Lê Nguyễn Duy T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, T khai nhận số ma túy bị thu giữ T mua về để sử dụng, chứ không nhằm mục đích bán cho người khác.
Vật chứng của vụ án:
01 gói nhựa màu trắng một đầu có khoá đóng, có kích thước khoảng (06 x 9,5) cm bên trong gói nhựa màu trắng có chứa 04 gói nhựa màu trắng được hàn kín xung quanh, cả 04 gói nhựa màu trắng đều có kích thước như nhau khoảng (01 x 03) cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng, dạng rắn (thu giữ trong lòng bàn tay phải của T, được kí hiệu M khi giám định).
Tại Bản kết luận giám định số 167/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,7697 gam là Methamphetamine.
H lại mẫu vật gửi đến giám định: 01 gói nhựa màu trắng kích thước (06 x 09)cm và 04 gói nhựa màu trắng kích thước (01 x 03)cm đều đã cắt lấy mẫu và 0,6912 gam mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 167, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
Xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.
Tại các lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, trong quá trình điều tra đều thể hiện bị cáo T có hành vi tàng trữ trái phép 0,7697 gam Methaphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Với hành vi nêu trên, ngày 14/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ra bản cáo trạng số 84/CT-VKS truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu lời luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép 0,7697 gam Methaphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đề nghị xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vì bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo T từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy các mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 167, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 26/01/2024, tại trước khu vực sân bóng đá Quốc Đạt trên đường N, thuộc khu phố E, phường M, thành phố P, Lê Nguyễn Duy T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,7697 gam là Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy; bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi và thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Do đó Cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 14/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.
H1 biết M là các loại ma túy nằm trong danh mục nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm tàng trữ trái phép vì hậu quả nguy hại của nó đối với sức khỏe con người và trật tự trị an xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi này không những xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử phạt một mức án tù tương xứng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về nhân thân: Trường chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với các mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 167, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Đối với người bán ma túy cho T, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý hình sự là có cơ sở.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tuyên bố: Bị cáo Lê Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
* Xử phạt: Bị cáo Lê Nguyễn Duy T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 167, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B cần tịch thu, tiêu hủy.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 119 ngày 16/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).
* Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Nguyễn Duy T nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo; Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ Tọa Phiên Tòa PHAN THỊ THÁI |
Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 118/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRường tàng trữ trái phép chất ma tuý
