|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA B TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2023/HSST Ngày 25/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA B, TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hương và bà Ngô Thị Như Hoa
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dan thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B tham gia phiên toà: Ông Đinh Việt Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 112/2023/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2023/HSST- QĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo: Phạm Thanh L, sinh ngày 29/4/1982 tại Hòa Bình
Quê quán: Xã Xuân Ch, huyện Xuân Tr, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Tổ 9, phường Phương L, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam, Dân tộc: Kinh, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không, Con ông: Phạm Thanh S, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959; có vợ là Lê Thị Ch, sinh năm 1983 và 03 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2015.
Tiền sự: Không
Tiền án: Có một tiền án.
Ngày 18/3/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa B xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 21/9/2022.
Về nhân thân:
Ngày 22/3/2002 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng.
Ngày 11/6/2012 bị Công an phường Phương L, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình xử phạt 150.000 đồng về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác.
Ngày 05/02/2015 bị Công an thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình xử phạt 750.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Hòa Bình; Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo: Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 18/9/1981 tại Hòa Bình; Nơi cư trú: Tổ 1, phường Đồng T, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình; Nơi ở hiện nay: Tổ 01, phường Tân Th, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đình Tr và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); có vợ là Vũ Thị Bích H, sinh năm 1981 và 01 con sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2023 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Hòa Bình; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thanh L và Nguyễn Ngọc H là bạn bè quen biết chơi với nhau. Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 22/6/2023, L đến chơi, ăn cơm tại nhà H. Sau khi ăn xong, do có nhu cầu sử dụng ma túy, L rủ H đi mua ma túy về sử dụng, H đồng ý. H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Future, BKS 16L1-2736 chở Lâm đi tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực nhà của Nguyễn Thị Ng thuộc tổ 3, phường Thái B, thành phố Hòa B, L xuống xe đi bộ vào trước cửa nhà gọi cửa hỏi mua ma túy và đưa qua khe cửa 300.000 đồng (là tiền của L). Phía bên trong cửa có 01 người (L không biết là ai) đưa ra 02 gói ma túy, L cầm trong lòng bàn tay trái rồi lên xe, H chở L về. Khi đi đến quán tạp hóa Nguyên Anh thuộc phường Phương L, thành phố Hòa B, H và L dừng xe để mua nước uống. Tại đây, L đưa cho H 02 gói ma túy vừa mua được. H cầm 02 gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe chở L đi về. Khi đi đến khu vực tổ 9, phường Phương L, thành phố Hòa B thì H và L bị tổ công tác Công an thành phố Hòa B phát hiện, bắt quả tang. Quá trình bắt giữ, do lo sợ, H đã thả 02 gói ma túy vừa mua được từ lòng bàn tay trái xuống nền đường cạnh chân H đang đứng nhưng tổ công tác đã kịp thời thu giữ.
Tại bản kết luận giám định số 281/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Hòa Bình, kết luận: “Chất tinh thể màu trắng kí hiệu M1, M2 trong phong bì niêm phong nguyên vẹn, một mặt ghi tên đối tượng Phạm Thanh L, sinh năm 1982, HKTT và chỗ ở: tổ 09, phường Phương L, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình và Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1981, HKTT và chỗ ở: tổ 01, phường Tân Th, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình gửi giám định có tổng khối lượng 0, 23g, là ma túy, loại Methamphetamine."
Methamphetamin nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số: 112/CT- VKS ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình đã truy tố các bị cáo Phạm Thanh L và Nguyễn Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Phạm Thanh L và Nguyễn Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Thanh L mức án từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Ngọc H mức án từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Phạm Thanh L và Nguyễn Ngọc H không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Phạm Thanh L và Nguyễn Ngọc H đều khai nhận: Khoảng 13 giờ 10 phút, ngày 22/6/2023 bị cáo L và bị cáo H đã cùng nhau đi ma túy của một người không quen biết tại Khu vực Tổ 3, phường Thái B, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa B, mục đích để sử dụng, trên đường đi về đến Tổ 9, phường Phương L, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố Hòa B bắt quả tang thu giữ cùng tang vật 02 gói ma túy có trọng lượng 0, 23 gam Methamphetamin.
Xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Phạm Thanh L và bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do các bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét vai trò của các bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo Phạm Thanh L là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Nguyễn Ngọc H thực hiện tội phạm, số tiền mua ma túy và là người trực tiếp giao dịch mua bán ma túy. Bản thân bị cáo đã có một tiền án. Ngày 18/3/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản, chưa được xóa án tích bị cáo lại có hành vi tàng trữ 0, 23 gam Methamphetamin. Nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Như vậy xét về vao trò cũng như nhân thân thì mức hình phạt của bị cáo phải cao hơn bị cáo H.
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H là người trực tiếp đi mua ma túy cùng bị cáo L, bị cáo là người điều khiển xe chở bị cáo L đi mua ma túy và mục đích cùng nhau sử dụng. Như vậy cũng cần có mức án tương xứng với tính chất mức độ, hậu quả do bị cáo gây ra.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Thanh L đã có một tiền án về tội “Cướp tài sản” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc H không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo L có thêm tình tiết giảm nhẹ, bản thân là lao động chính trong gia đình; mẹ bị cáo là Nguyễn Thị H là người có công với cách mạng. Bị cáo H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét áp dụng cho cho từng bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn làm nghề lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn đinh nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[7] Về vật chứng vụ án:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hòa B đã thu giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Future, Biển kiểm soát 16L1-2736. Quá trình điều tra xét thấy chiếc xe không liên quan đến vụ án, nên đã trao trả lại cho chủ sở hữu chị Vũ Thị Bích H.
01 (một) phong bì niêm phong, bên trong có 0, 18 gam Methamphetamin hoàn trả lại sau giám định. Xét đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành tuyên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Thanh L.
2. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H.
3. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh L và Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
4. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2023.
5. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2023.
6. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy.
01 (một) phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả lại sau giám định chất ma túy của phòng PC 09- Công an tỉnh Hòa Bình mang tên Phạm Thanh L và Nguyễn Ngọc H. Mép dán mặt sau phong bì niêm phong có dấu tròn đỏ của Phòng PC09- Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong được bảo quản nguyên vẹn.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 04/BB/2024 ngày 12/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hòa B và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa B).
7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Phạm Thanh L và Nguyễn Ngọc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
8. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đã ký Bùi Thị Hiền |
Bản án số 118/2023/HSST ngày 25/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA B, TỈNH HÒA BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 118/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA B, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thanh L và Nguyễn Ngọc H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
