|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2024 V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Danh Thùy
- Bà Vũ Kim Hoa
Thư ký phiên toà: Bà Mã Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Thu – Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2024/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hà T - sinh năm 1998 (Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
- Bị đơn: Anh Khằm Nông G - sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Hiện nay đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cao Bằng; vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/5/2024, bản tự khai ngày 05/9/2024 và trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị Hà T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Khằm Nông G kết hôn ngày 12/5/2016 trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Sau khi kết hôn vợ chồng chị lao động tự do tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Về quá trình chung sống vợ chồng: Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Quá trình mâu thuẫn có xảy ra cãi vã, to tiếng, tuy nhiên không xảy ra xô sát, gây thương tích gì. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình và bản thân hai vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Mặt khác, anh G nghiện ma túy, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cao Bằng. Từ tháng 9/2022 vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Khằm Nông G.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh G có 02 con chung tên Khằm Nông T1, sinh ngày 22/12/2025, giới tính: nam và Khằm Nông T2, sinh ngày 28/5/2017, giới tính: nam.
Do hiện nay anh G đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cao Bằng nên sau khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung đến khi thành niên và không yêu cầu anh G có nghĩa vụ cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị Hà T và bị đơn anh Khằm Nông G đều vắng mặt, tuy nhiên các bên đương sự đã có đơn xin xét xử vắng mặt và bảo lưu các ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án.
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt thông báo thụ lý, tiến hành lấy lời khai của bị đơn anh Khằm Nông G. Tại biên bản lấy lời khai của anh Khằm Nông G tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng ngày 28/8/2024, anh G trình bày như sau:
Về thời gian, điều kiện kết hôn với chị Hoàng Thị Hà T, anh G xác nhận như chị T trình bày là đúng.
Về quá trình chung sống vợ chồng: Theo anh G, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do chị T có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình và bản thân hai vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ tháng 9/2022 vợ chồng đã ly thân và không con quan tâm đến nhau nữa. Nay anh G cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn và nhất trí ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn chị T.
Về con chung: Anh G xác nhận vợ chồng có 02 con chung như chị T trình bày. Hiện nay, các con đang sinh sống cùng bà nội tại xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Còn chị T đi làm xa và đã có gia đình riêng. Anh G có ý kiến, còn khoảng 05 tháng nữa là anh hết thời hạn bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cao Bằng và trở về gia đình nên khi ly hôn, anh G có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung đến khi thành niên và yêu cầu chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi các con chung là 2.000.000 đồng/tháng/02 con (1.000.000 đồng/tháng/01 con) kể từ khi ly hôn đến khi thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các bên không thỏa thuận, thống nhất được với nhau về vấn đề con chung khi ly hôn. Ngày 05/9/2024 chị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án. Do đó, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm. Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Hà T. Về con chung: Giao 02 con chung Khằm Nông Trường, sinh ngày 22/12/2015, giới tính: nam và Khằm Nông T2, sinh ngày 28/5/2017, giới tính: nam cho chị Hoàng Thị Hà T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (18 tuổi) và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng do chị T không có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Hoàng Thị Hà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án đã được thẩm tra, trên cơ sở những lời trình bày và kết quả tranh luận của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị Hà T kết hôn với anh Khằm Nông G theo giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 12/5/2016 tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Nay, chị T khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, giải quyết vấn đề nuôi con chung khi ly hôn với anh G, nên quan hệ pháp luật được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Hà T và anh Khằm Nông G có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng vào ngày 12/5/2016 trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau. Do vậy, xác định quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh G là hợp pháp.
Về quá trình chung sống vợ chồng: Theo lời khai của chị T quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Mặt khác, anh G nghiện ma túy, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cao Bằng.
Anh G hiện nay đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cao Bằng nên lời khai của chị T về việc anh G nghiện ma túy là có cơ sở. Anh G cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do chị T ngoại tình nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Anh G và chị T đều xác nhận quá trình mâu thuẫn vợ chồng có xảy ra cãi vã, to tiếng, tuy nhiên không xảy ra xô sát, gây thương tích gì. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình và bản thân hai vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ tháng 9/2022 vợ chồng đã ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa. Cả chị T và anh G đều xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, thống nhất ly hôn. Xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị T và anh G đã không đạt được, hai bên đương sự đều thống nhất yêu cầu được ly hôn, do vậy Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của hai bên đương sự.
[3] Về con chung: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Hà T và bị đơn Khằm N cùng xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên Khằm Nông T1, sinh ngày 22/12/2015, giới tính: nam và Khằm Nông T2, sinh ngày 28/5/2017, giới tính: nam. Khi ly hôn, cả chị T và anh G đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung đến khi thành niên.
Xét thấy, hiện nay anh G đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cao Bằng nên không đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con. Mặt khác, tại các Biên bản lấy lời khai của con chưa thành niên ngày 26/8/2024, cháu Khằm Nông T1 và Khằm N đều có nguyện vọng được ở cùng với mẹ khi bố mẹ ly hôn nên cần giao các con chung cho chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T không có yêu cầu nên hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi xét thấy cần thiết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Hà T và bị đơn Khằm N cùng xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Áp dụng Khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 235; Điều 266; Điều 267; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị Hà T đối với anh Khằm Nông G.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Hà T đối với anh Khằm Nông G chấm dứt kể từ thời điểm bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 02 con chung Khằm Nông Trường, sinh ngày 22/12/2015, giới tính: nam và Khằm Nông T2, sinh ngày 28/5/2017, giới tính: nam cho chị Hoàng Thị Hà T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (18 tuổi) và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng do chị T không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi xét thấy cần thiết.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị Hà T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn sung công quỹ Nhà nước; nhưng được đối trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001049 ngày 19/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lý Xuân Huy |
Bản án số 118/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 118/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con
